Olga Tokarczuk

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Olga Tokarczuk
Olga Tokarczuk (2018).jpg
Olga Tokarczuk, 2018
Sinh29 tháng 1, 1962 (57 tuổi)
Sulechów, Ba Lan
Quốc tịchBa Lan
Nghề nghiệpNhà văn tiểu thuyết, nhà tâm lý học, nhà biên kịch, nhà văn tự luận, nhà thờ
Tác phẩm nổi bậtPrimeval and Other Times
House of Day, House of Night
Flights
The Books of Jacob
Giải thưởngGiải Nike (2008, 2015)
Giải Vilenica (2013)
Brückepreis (2015)
Giải Man Booker quốc tế (2018)
Giải Nobel Văn học (2018)
Olga Tokarczuk, Kraków, Ba Lan, 2005

Olga Nawoja Tokarczuk[1] ([tɔˈkart͡ʂuk]; sinh ngày 29 tháng 1 năm 1962) là một nhà văn Ba Lan, người đã được nhiều nguồn mô tả như là một trong những tác giả được đánh giá thành công nhất và thành công nhất về mặt thương mại trong thế hệ của bà. [2][3] Bà là nhà văn người Ba Lan đầu tiên giành giải Man Booker International Prize.[4] Năm 2019 bà được trao Giải Nobel Văn học 2018.

Tokarczuk đặc biệt chú ý đến tông màu huyền thoại trong tác phẩm của mình. Bà được đào tạo ngành tâm lý học tại Đại học Warszawa và xuất bản một bộ sưu tập các bài thơ, một số tiểu thuyết, cũng như các cuốn sách khác với các tác phẩm văn xuôi ngắn hơn. Cuốn sách của bà Bieguni (Flights) đã giành giải Nike, giải thưởng văn học hàng đầu của Ba Lan, năm 2008. Bà tham dự Liên hoan sách Edinburgh năm 2010 để thảo luận về cuốn sách Primeval and Other Times của mình và các tác phẩm khác. Đối với cuốn tiểu thuyết mới của bà Księgi jakubowe (Những cuốn sách của Jacob) , Tokarczuk đã giành giải Nike lần nữa vào năm 2015. Trong cùng năm Tokarczuk trở thành người nhận giải thưởng Cầu quốc tế Đức-Ba Lan, một sự công nhận mở rộng cho những người đặc biệt hoàn thành trong việc quảng bá hòa bình, phát triển dân chủ và hiểu biết lẫn nhau giữa người dân và các quốc gia Châu Âu. [5][6][7] Tác phẩm năm 2007 của bà, Flights (Fitzcarraldo Editions), dịch sang tiếng Anh bởi Jennifer Croft, , được dịch bởi Jennifer Croft, đoạt giải thưởng Man Booker International 2018. [8]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tokarczuk sinh ở Sulechów gần Zielona Góra, Ba Lan. Trước khi nổi tiếng với sự nghiệp văn chương, từ năm 1980, bà đã theo học ngành tâm lý học tại Đại học Warsaw. Trong thời gian sinh viên, bà đã làm tình nguyện viên cho một viện tâm thần cho thanh thiếu niên có các vấn đề về hành vi.[9] Sau khi tốt nghiệp năm 1985, ban đầu bà đến Wrocław và sau đó đến Wałbrzych, nơi bà bắt đầu hành nghề trị liệu. Tokarczuk tự coi mình là học trò của Carl Jung và trích dẫn tâm lý học của mình như một nguồn cảm hứng cho tác phẩm văn học của mình. Từ năm 1998, Tokarczuk đã sống trong một ngôi làng nhỏ gần Nowa Ruda, nơi bà cũng quản lý công ty xuất bản riêng của mình Ruta. Bà là thành viên của Đảng Xanh (Ba Lan), một đảng chính trị.[10]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1989 - Miasta w lustrach, Kłodzko: Okolice
  • 1993 - Podróż ludzi księgi. Warszawa: Przedświt
  • 1999 - E. E.
  • 1996 - Prawiek i inne czasy
  • 1997 - Szafa
  • 1998 - Dom dzienny, dom nocny
  • 2000 - Opowieści wigilijne(với Jerzy PilchAndrzej Stasiuk)
  • 2000 - Lalka i perła
  • 2001 - Gra na wielu bębenkach
  • 2004 - Ostatnie historie
  • 2006 - Anna w grobowcach świata
  • 2007 - Bieguni
  • 2009 - Prowadź swój pług przez kości umarłych
  • 2012 - Moment niedźwiedzia
  • 2014 - Księgi Jakubowe

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Stowarzyszenie Kulturalne "Góry Babel" (bằng tiếng Ba Lan). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2019. 
  2. ^ Rzeczpospolita. “List of Polish bestsellers 2009”. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2011. 
  3. ^ Gazeta Wyborcza. “Tokarczuk wins NIKE prize for Bieguni (Flights)”. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2011. 
  4. ^ “Olga Tokarczuk's 'extraordinary' Flights wins Man Booker International prize”. The Guardian. 22 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018. 
  5. ^ Zgorzelec - The Neighbor. Welcome to Goerlitz/Zgorzelec. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2015. 
  6. ^ Nagroda Mostu [The Bridge Prize]”. Zgorzelec oficjalny serwis miasta. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2015. 
  7. ^ Międzynarodowa Nagroda Mostu dla Olgi Tokarczuk [The International Bridge Prize for Olga Tokarczuk]”. Wydawnictwo Literackie. 6 tháng 12 năm 2015. 
  8. ^ “The Man Booker International Prize Shortlist”. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2018. 
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên wiacek
  10. ^ Dorota Wodecka (10 tháng 10 năm 2015). Olga Tokarczuk, laureatka Nike 2015: Ludzie, nie bójcie się! [Olga Tokarczuk, the laureate of Nike 2015: People, don't be afraid!]”. Gazeta Wyborcza.