Giorgos Seferis

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giorgos Seferis
Công việc Nhà thơ, Nhà ngoại giao
Quốc gia Hy Lạp
Giải thưởng nổi bật Giải Nobel Văn học
1963

Giorgos Seferis (tiếng Hy Lạp: Γιώργος Σεφέρης; 19 tháng 2 năm 1900 - 20 tháng 9 năm 1971), tên thật là Giorgos Stylianos Seferiadis, là nhà thơ, nhà ngoại giao người Hy Lạp đoạt giải Nobel Văn học năm 1963.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh gần Smyrna (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Lên 14 tuổi, ông theo gia đình chuyển về Athena, năm 1918 theo bố sang Paris. Năm 1922 quân đội Thổ Nhĩ Kỳ chiếm Smyrna, người Hy Lạp từ giã vùng đất họ đã sống 2000 năm. Seferis học luật và say mê văn chương, làm việc tại Bộ ngoại giao Hoàng gia Hy Lạp. Trong Thế chiến thứ hai, Hy Lạp bị Đức chiếm đóng, Giorgos Seferis cùng chính phủ Hy Lạp sống lưu vong ở nước ngoài.

Sau chiến tranh, Seferis tiếp tục làm việc ở Bộ Ngoại giao Hy Lạp, giữ các trọng trách ở Ankara (1948-1950), London (1951-1953), Liban, Syria, JordanIraq (1953-1956) và là đại sứ ở Anh từ 1957 tới 1961. Ông nhận được rất nhiều bằng danh dự và giải thưởng, trong đó có bằng Tiến sĩ danh dự của các trường Đại học Cambridge (1960), Đại học Oxford (1964), Đại học Salonika (1964) và Đại học Princeton (1965).

Tập thơ đầu tiên Strofi (Điểm ngoặt, 1931) chỉ in 150 bản, tên sách trong nguyên tác vừa có nghĩa "Khổ thơ", vừa có nghĩa "Điểm ngoặt", tượng trưng cho một bước chuyển mới trong thơ Hy Lạp. Tiếp đó là tập thơ trữ tình theo chủ nghĩa tượng trưng Sterna (Cái bể nước, 1932) đề cập đến những ước mơ trong sâu thẳm tâm hồn con người, những ước mơ bị quên lãng trong cuộc sống ngày thường. Trong những tác phẩm sau này, Seferis nói nhiều đến sự hiện hữu của quá khứ trong hiện tại, bắt đầu bằng Mythistorema (Thần thoại, 1935). Ngoài các tác phẩm thơ, năm 1962 ông xuất bản tập Dokimes (Tiểu luận), và năm 1965 là tuyển tập dịch thơ của các nhà thơ Anh, Pháp, Mỹ mang tên Antigrafes (Bản sao). Sáng tác thơ của Seferis trong giai đoạn 1924-1955 được in cả ở Hy Lạp và Mỹ.

Thơ của Seferis về những đề tài: cái chết, sự mất mát và hỗn mang. Nhân vật trong thơ ông thường là những người lãng du muôn thuở buồn nhớ về thiên đường đã mất. Năm 1963 ông được trao Giải Nobel Văn học "vì những tác phẩm thơ trữ tình xuất sắc". Giorgos Seferis mất tại Athena.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Strofi (Điểm ngoặt, 1931), thơ
  • Sterna (Cái bể nước, 1932), thơ
  • Mythistorema (Thần thoại, 1935), thơ
  • Tetradio gymnasmaton (Cuốn sách bài tập, 1940), thơ
  • Imerologio Katastromatos I (Nhật kí hải trình I, 1940), thơ
  • Imerologio Katastromatos II (Nhật kí hải trình II, 1944), thơ
  • Kichli (Xô đẩy, 1947), thơ
  • The king of Assine and other poems (Vua của Assine và những bài thơ khác, 1948)
  • Imerologio Katastromatos III (Nhật kí hải trình III, 1955), thơ
  • Tria Kryfa Poiimata (Ba bài thơ bí mật, 1966), thơ
  • Dokimes (Tiểu luận, 1962), tiểu luận
  • Antigrafes (Bản sao, 1965), thơ dịch

Một bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

ΕΛΕΝΗ
ΤΕΥΚΡΟΣ ... ες γην εναλίαν Κύπρον ου μ' εθέσπισεν
οικείν Απόλλων, όνομα νησιωτικόν
Σαλαμίνα θέμενον της εκεί χάριν πάτρας.
..............................................................
ΕΛΕΝΗ: Ουκ ήλθον ες γην Τρωάδ' , αλλ' είδωλον ήν.
.............................................................
ΑΓΓΕΛΟΣ: Τι φής;
Νεφέλης άρ' άλλως είχομεν πόνους πέρι;
ΕΥΡΙΠΙΔΗΣ,ΕΛΕΝΗ
 
"Τ' αηδόνια δε σ' αφήνουνε να κοιμηθείς στις Πλάτρες.
 
Аηδόνι ντροπαλό, μες στον ανασασμό των φύλλων,
σύ που δωρίζεις τη μουσική δροσιά του δάσους
στα χωρισμένα σώματα και στις ψυχές
αυτών που ξέρουν πως δε θα γυρίσουν.
Τυφλή φωνή, που ψηλαφείς μέσα στη νυχτωμένη μνήμη
βήματα και χειρονομίες. δε θα τολμούσα να πω φιλήματα.
και το πικρό τρικύμισμα της ξαγριεμένης σκλάβας.
 
"Τ' αηδόνια δε σ' αφήνουνε να κοιμηθείς στις Πλάτρες".
 
Ποιες είναι οι Πλάτρες; Ποιος το γνωρίζει τούτο το νησί;
Έζησα τη ζωή μου ακούγοντας ονόματα πρωτάκουστα:
καινούργιους τόπους, καινούργιες τρέλες των ανθρώπων
ή των θεών.
η μοίρα μου που κυματίζει
ανάμεσα στο στερνό σπαθί ενός Αίαντα
και μιαν άλλη Σαλαμίνα
μ' έφερε εδώ σ' αυτό το γυρογιάλι.
Το φεγγάρι
βγήκε απ' το πέλαγο σαν Αφροδίτη.
σκέπασε τ' άστρα του Τοξότη, τώρα πάει να 'βρει
την καρδιά του Σκορπιού, κι όλα τ' αλλάζει.
Πού είναι η αλήθεια;
Ήμουν κι εγώ στον πόλεμο τοξότης.
το ριζικό μου, ενός ανθρώπου που ξαστόχησε.
 
Αηδόνι ποιητάρη,
σαν και μια τέτοια νύχτα στ' ακροθαλάσσι του Πρωτέα
σ' άκουσαν οι σκλάβες Σπαρτιάτισσες κι έσυραν το θρήνο,
κι ανάμεσό τους-ποιος θα το 'λεγε-η Ελένη!
Αυτή που κυνηγούσαμε χρόνια στο Σκάμαντρο.
Ήταν εκεί, στα χείλια της ερήμου. την άγγιξα, μου μίλησε:
"Δεν είν' αλήθεια, δεν είν' αλήθεια" φώναζε.
"Δεν μπήκα στο γαλαζόπλωρο καράβι.
Ποτέ δεν πάτησα την αντρειωμένη Τροία".
 
Με το βαθύ στηθόδεσμο, τον ήλιο στα μαλλιά, κι αυτό
το ανάστημα
ίσκιοι και χαμόγελα παντού
στους ώμους στους μηρούς στα γόνατα.
ζωντανό δέρμα, και τα μάτια
με τα μεγάλα βλέφαρα,
ήταν εκεί, στην όχθη ενός Δέλτα.
Και στην Τροία;
Τίποτε στην Τροία-ένα είδωλο.
Έτσι το θέλαν οι θεοί.
Κι ο Πάρης, μ' έναν ίσκιο πλάγιαζε σα να ήταν πλάσμα
ατόφιο.
κι εμείς σφαζόμασταν για την Ελένη δέκα χρόνια .
 
Μεγάλος πόνος είχε πέσει στην Ελλάδα.
Τόσα κορμιά ριγμένα
στα σαγόνια της θάλασσας στα σαγόνια της γης.
τόσες ψυχές
δοσμένες στις μυλόπετρες, σαν το σιτάρι.
Κι οι ποταμοί φουσκώναν μες στη λάσπη το αίμα
για ένα λινό κυμάτισμα για μια νεφέλη
μιας πεταλούδας τίναγμα το πούπουλο ενός κύκνου
για ένα πουκάμισο αδειανό, για μιαν Ελένη.
Κι ο αδερφός μου;
Αηδόνι αηδόνι αηδόνι,
τ' είναι θεός; τι μη θεός; και τι τ' ανάμεσό τους;
 
"Τ' αηδόνια δε σ' αφήνουνε να κοιμηθείς στις Πλάτρες".
 
Δακρυσμένο πουλί,
στην Κύπρο τη θαλασσοφίλητη
που έταξαν για να μου θυμίζει την πατρίδα,
άραξα μοναχός μ' αυτό το παραμύθι,
αν είναι αλήθεια πως αυτό είναι παραμύθι,
αν είναι αλήθεια πως οι άνθρωποι Δε θα ξαναπιάσουν
τον παλιό δόλο των θεών.
αν είναι αλήθεια
πως κάποιος άλλος Τεύκρος, ύστερα από χρόνια,
ή κάποιος Αίαντας ή Πρίαμος ή Εκάβη
ή κάποιος άγνωστος, ανώνυμος που ωστόσο
είδε ένα Σκάμαντρο να ξεχειλάει κουφάρια,
δεν το 'χει μες στη μοίρα του ν' ακούσει
μαντατοφόρους που έρχουνται να πούνε
πως τόσος πόνος τόση ζωή
πήγαν στην άβυσσο
για ένα πουκάμισο αδειανό για μιαν Ελένη.
Helen
TEUCER: … để giành được đảo Síp, Apollo ra lệnh
xây dựng ở đó thành phố lấy theo tên của
thành phố Salamis quê hương.
..............................................
HELEN: Tôi chưa đến Tơ-roa, đấy chỉ là bóng ma.
..............................................
NGƯỜI ĐẦY TỚ: Cái gì?
Tất cả đau đớn chỉ là một bóng ma.
(Euripides, Helen)
 
“Ở Platres chim họa mi không cho bạn ngủ”
 
Những chú họa mi ẩn trong lá thì thầm
Chim đem sự mát mẻ vang vọng cho rừng
Đem cho thể xác và cho cả linh hồn
Của những ai tin rằng không còn quay lại nữa.
Giọng điếc đặc, dò dẫm trong trí nhớ
Những bước chân, không dám gọi “nụ hôn”
Trong cơn giận của người nô lệ nữ.
 
“Ở Platres chim họa mi không cho bạn ngủ”
 
Platres ở đâu? Ai biết những đảo này?
Tôi cả đời chưa từng nghe tên gọi ấy:
Thành phố mới và sự điên cuồng mới
Của con người và của cả thánh thần
Số phận tôi rung lên
Giữa thanh kiếm chết người của Ajax
Và người nào đấy có tên là Salamis
Đã đưa tôi đến bờ biển này đây.
Vầng trăng
Nhô lên từ biển như nữ thần Aphrodite
Vầng trăng ơi, vầng trăng che khuất
Chòm Nhân Mã, và hướng về Hồ Cáp
Tất cả đổi thay. Ở đâu sự thật?
Tôi cũng là một cung thủ trong chiến tranh
Số phận tôi là số phận người có mũi tên đi lạc.
 
Ôi họa mi, như người hát
Trong cái đêm trên bờ biển Proteus
Những nô lệ Spartan nghe đến mê say
Rồi họ khóc, Helen cũng trong số này!
Đấy là người mà ta tìm khắp Scamander năm ấy
Nàng ở gần sa mạc. Và khi tôi đến đấy
Nàng kêu lên: “Tất cả đều nói dối
Ta chưa từng bước lên con tàu xanh
Chưa từng đến Tơ-roa thuở chiến tranh!”
 
Ngực nhô cao và nắng trên mái tóc
Một thân hình cao
Bóng và nụ cười ở khắp mọi nơi
Trên vai, trên đầu gối, trên đùi
Làn da trắng mịn màng và đôi mắt
Có bờ mi dài.
Nàng ở nơi bến bờ xa lắc.
Thế còn ở Tơ-roa?
Ở Tơ-roa chỉ có bóng ma.
Paris nằm trên giường với bóng
Tựa như ôm con người sống động
Thế mà trong suốt mười năm
Chúng ta chém giết nhau và chết vì Helen.
 
Ôi Hy Lạp đau thương
Bao nhiêu máu xương người đổ xuống
Trên ruộng đồng, trên biển
Bao nhiêu linh hồn
Như trong cối xay lúa
Đầu rơi máu chảy thành sông
Vì một điều gì đấy trống không
Hay vì loài bướm
Vì cái gì trống rỗng, vì Helen.
Đâu rồi người anh em của tôi?
Chim họa mi, họa mi đâu rồi
Đâu là Thần, đâu không phải Thần, điều gì ở giữa?
 
“Ở Platres chim họa mi không cho bạn ngủ”
 
Con chim buồn thương
Bay về đảo Síp dạt dào sóng vỗ
Gợi cho tôi một nỗi nhớ quê hương
Và tôi hòa mình vào câu chuyện cổ
Nếu đó là sự thật và những đồng hương
Sẽ không còn rơi vào bẫy của thánh thần
Của những câu chuyện cổ
Nếu đó là sự thật và sau nhiều năm
Sẽ có một Teucer nào đó
Hoặc một Ajax, Hecuba, một Priam
Hoặc một người nào không tuổi không tên
Mà người này đã từng
Thấy Scamander xác người chất đống
Và khi người ta mang tin đến
Rằng bao nhiêu đau khổ, bao nhiêu cuộc đời
Đã rơi vào vực thẳm
Chỉ vì một cái gì trống rỗng, một Helen.[1]
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bài thơ dựa trên câu chuyện rút từ bi kịch “Helen” của Euripides. Apollo ra lệnh cho Teucer đi đến Síp và thành lập một thành phố, gọi theo tên thành phố quê hương là Salamis. Trên đường đến Síp Teucer đi lạc sang Ai Cập, ở vùng đồng bằng sông Nile, nơi đã từng sống Proteus (mà nhiều thế kỷ sau đó sẽ lập nên thành phố Alexandria) - Homer coi Proteus là thần biển, Euripides gọi ông là một vị vua khôn ngoan và tĩnh lặng, các vị thần đã mang Helen sang giấu ở đấy trong suốt cuộc chiến Tơ-roa. Teucer gặp Helen và biết rằng ở Tơ-roa chỉ có bóng ma của nàng. Tất cả những tên riêng khác đều là những nhân vật rất nổi tiếng trong Thần thoại Hy Lạp nên chúng tôi không chú thích ở đây.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]