Fuck You (bài hát)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Fuck You"
Đĩa đơn của Lily Allen
từ album It's Not Me, It's You
Phát hành 10 tháng 7 năm 2009 (Đức)[1]
13 tháng 7 năm 2009 (Pháp)[2]
20 tháng 8 năm 2009 (Ý)[3]
Định dạng CD đĩa đơn, nhạc số
Thể loại Pop, electropop, indie dance
Thời lượng 3:43
Hãng đĩa Regal
Sáng tác Lily Allen, Greg Kurstin
Sản xuất Greg Kurstin
Thứ tự đĩa đơn của Lily Allen
"Not Fair"
(2009)
"Fuck You"
(2009)
"22"
(2009)
Đoạn nhạc mẫu
trợ giúpthông tin
Video âm nhạc
"Fuck You" trên YouTube

"Fuck You" là bài hát của nữ ca sĩ người Anh Lily Allen. Bài hát sáng tác bởi Allen và Greg Kurstin, được phát hành làm đĩa đơn từ album It's Not Me, It's You vào tháng 7 năm 2009.

Đây là đĩa đơn quốc tế thứ ba của Allen.[4] Tuy nhiên, nó đã không được phát hành ở Anh, quê nhà của Allen. Nội dung ca từ của bài hát này được cho là sự phản đối của Allen đối với chính sách về người đồng tính và chính sách chiến tranh và của cựu tổng thống Mỹ George W. Bush.[5]

Thông tin bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Như điều cô vẫn thường làm với các bản thu âm của mình, Lily Allen đăng bản demo bài hát này lên trang Myspace cá nhân vào năm 2008, dưới tên gọi "Guess Who Batman", cùng với hai ca khúc khác là "I Could Say" và "I Don't Know" ("I Don't Know" sau này là "The Fear"). Bài hát được sáng tác bởi Allen và Greg Kustin. Trước khi có mặt chính thức trong album, ca khúc này đã được thay đổi tên vài lần, bao gồm "Get With the Brogram" và "GWB", tất cả đều có những chữ cái đầu tiên là trùng với tên cựu tổng thống Mỹ George W. Bush. Vì thế, theo tạp chí NMERolling Stone, bài hát là sự phản đối của Allen đối với ông.[5][6]

Trong khi đó, tờ Urban Review nói rằng ca khúc lấy cảm hứng từ phe hữu Đảng quốc gia Anh. Nguồn dẫn nói rằng Allen có chủ ý khi sáng tác bài hát này, nhưng cảm thấy bài hát đang liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau nên sau này cô không còn nhắm vào một mục tiêu cụ thể nữa.[7] Tại Glastonbury Festival 2009, Allen trước khi biểu diễn bài hát này đã nhắc đến sự kiện bầu cử nghị viện châu Âu diễn ra 3 tuần trước đó, trong đó Đảng quốc gia Anh đã có được một ghế đại diện đầu tiên của mình, nói rằng đây là lý do cô hát bài hát này.[7]

Thành tích xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Ca khúc có mặt ở vị trí 37 trên Canadian Top 100 vào ngày 28 tháng 2 năm 2009, cho dù không được phát hành làm đĩa đơn ở đây. Tại Hoa Kỳ, bài hát lọt vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100 ở vị trí 68 trong cùng tuần, trở thành bài hát thứ ba của cô lọt vào bảng xếp hạng ở quốc gia này.[8]

Tại Anh, tuy ca khúc không được phát hành làm đĩa đơn chính thức, nó vẫn lọt vào UK Singles Chart ở vị trí 154 chỉ dựa trên số lượt tải về, số lần chơi trên sóng phát thanh và các kênh âm nhạc nước Anh.[9]

Ở Hà Lan, bài hát được phát hành làm đĩa đơn thứ hai từ album và có mặt trên Dutch Top 40 lần đầu vào tháng 4 năm 2009 ở vị trí 23. Ca khúc sau đó đã leo lên đến vị trí số 3.[8] Bài hát cũng đã đạt vị trí quán quân ở Bỉ tháng 6 năm 2009.[8] Ngoài ra, bài hát cũng lọt vào top 10 ở Na Uy, Pháp, Phần Lan và Thụy Điển.[8] Ở Úc, bài hát đạt vị trí 23.[8]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Video âm nhạc cho bài hát được đăng lên trang YouTube chính thức của Parlophone ngày 15 tháng 6 năm 2009. EMI đã thuê một đạo diễn người Pháp để đạo diễn cho video này. Video quay cảnh trên đường đi từ phòng ngủ khách sạn của Allen đến một trường phim. Tất cả cảnh quay trong video này đều được nhìn từ tầm mắt của Allen. Trên đường đi, Allen dùng tay của mình làm méo mó những người, vật xung quanh. Chẳng hạn, cô đã kéo giãn tháp Eiffel, bóp méo mặt, thân và kéo tóc những người trên đường làm họ trở nên dị dạng.[10]

Danh sách bài hát và định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền vị
"Fairytale" của Alexander Rybak
Đĩa đơn quán quân Belgian (Flanders) Singles Chart
6 tháng 6 năm 2009 - 27 tháng 6 năm 2009
Kế vị
"Boom Boom Pow" của "Black Eyed Peas"
Tiền vị
"Did You See Me Coming?" của Pet Shop Boys
Đĩa đơn quán quân U.S. Hot Dance Club Songs
28 tháng 11 năm 2009
Kế vị
"S.O.S. (Let the Music Play)" của Jordin Sparks

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “LILY ALLEN // Produkte +++ EMI - Gute Musik ist besser”. Emimusic.de. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  2. ^ “Fuck You: Lily Allen: Amazon.fr: Musique”. Amazon.fr. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2010. 
  3. ^ “Radio Web Italia - Lily Allen ritorna con "Fuck You". Radiowebitalia.it. Ngày 20 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2010. 
  4. ^ “— • Lily Allen • Whats Happening? • —”. LilyAllenMusic.com. Ngày 5 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  5. ^ a ă “Lily Allen gets political in LA: Singer speaks out against President George W Bush”. NME. Ngày 3 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2015. 
  6. ^ Rosen, Jody (ngày 4 tháng 2 năm 2009). “Đánh giá album của Rolling Stone”. 
  7. ^ a ă “Lily Allen - Guess Who Batman (Fuck You Very Much)”. Urban Review. Ngày 26 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  8. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k “Vị trí xếp hạng của Fuck You”. acharts.us. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2009. 
  9. ^ a ă “Fuck You UK Chart position”. zobbel.de. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009. 
  10. ^ “Pop Payback:The British star’s caustic clip, made by French filmmakers, goes viral Wall Street Journal”. Ngày 2 tháng 7 năm 2009. 
  11. ^ a ă â b c Steffen Hung. “Lily Allen - Fuck You”. lescharts.com. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  12. ^ Steffen Hung (ngày 18 tháng 7 năm 2009). “Les charts français”. lescharts.com. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  13. ^ “Chartverfolgung - Allen,Lily - Fuck You”. Musicline.de. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  14. ^ a ă Steffen Hung. “Schweizer Hitparade - Singles Top 75 16.05.2010”. hitparade.ch. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  15. ^ “Chart Highlights: Country, Rock, Rap Songs & More”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Ngày 16 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2009. 
  16. ^ “Ultratop Belgian Charts” (bằng tiếng Pháp). ultratop.be. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  17. ^ “Les Disques d'Or 2009” (PDF) (bằng tiếng Pháp). Disqueenfrance. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010. 
  18. ^ “Kulta- ja platinalevyt”. IFPI. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010. 
  19. ^ The Official Swiss Charts and Music Community
  20. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2009 Singles”. Aria.com.au. Ngày 31 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  21. ^ http://www.fimi.it/temp/cert_Nielsen_week34.pdf