Bước tới nội dung

Gaitana (ca sĩ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Gaitana
Thông tin nghệ sĩ
Tên bản ngữГайтана
Tên khai sinhGaita-Lurdes Klaverivna Essami
Sinh24 tháng 3, 1979 (45 tuổi)
Kyiv, Xô viết Ukraina
(nay là Ukraina)
Thể loại
Nghề nghiệp
Nhạc cụ
  • Hát
Năm hoạt động2003–nay
Websitegaitana.com/en

Gaita-Lurdes Klaverivna Essami (tiếng Ukraina: Гайта-Лурдес Клаверівна Ессамі; sinh ngày 24 tháng 3 năm 1979), hay có nghệ danh là Gaitana (tiếng Ukraina: Гайтана, chuyển tự Haitana), là một ca sĩ và nhạc sĩ sáng tác bài hát người Ukraina. Phong cách nhạc pop của Essami được miêu tả là mang các yếu tố của jazz, funk, souldân ca. Cô đã đại diện cho Ukraina tranh tài tại Eurovision Song Contest 2012Baku, thể hiện ca khúc "Be My Guest" và xếp thứ 15 trong trận chung kết.

Gaitana là thí sinh gốc Phi thứ ba dự Eurovision đến từ một nước thuộc Liên Xô, sau ca sĩ kiêm nghệ sĩ guitar người Litva Viktoras "Victor" Diawara của nhóm LT United và ca sĩ người Estona Daana Ots of Suntribe.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Essami sinh ra ở Kyiv, có mẹ là người Ukrainian tên Tatiana Petrova và cha tên Klaver Essami đến từ Cộng hòa Congo.[1][2] Lúc còn nhỏ, gia đình cô rời Ukraina và chuyển đến quê nhà Brazzaville của cha cô. Họ sống ở Cộng hòa Congo trong năm năm, rồi Essami và mẹ cô trở về Ukraina vào năm 1985. Do phần lớn những năm đầu đời sống ở Cộng hòa Congo, Essami chỉ có thể nói tiếng Pháptiếng Lingala sau khi trở về Ukraina, tuy nhiên sau này cô đã nói trôi chảy tiếng Ukrainatiếng Nga nữa. Người cha đã ly thân của Essami hiện vẫn sống ở Brazzaville, tại đây ông làm chủ một doanh nghiệp vận tải.[3]

Ở Kyiv, Essami theo học trường nhạc và học cách chơi saxophone. Sau đó cô theo học đại học về chuyên ngành kinh tế. Từ nhỏ, Essami đã là vận động viên xuất sắc, từng vô địch giải bóng bàn. Năm 1991, Essami tranh tài tại cuộc thi nhạc cho thiếu nhi mang tên Fantasy Lotto Nadiya, cô đạt vị trí thứ ba chung cuộc. Sau cuộc thi, Essami bắt đầu hát ở một nhóm nhạc thiếu nhi dẫn dắt bởi Volodymyr Bystryakov.[4] Ở Liên Xô, nhạc R&B không quá phổ biến, vậy nên Essami vừa được giới thiệu các bài hát ngoại ngữ, vừa tham gia các tụ điểm nhạc underground thời niên thiếu.[4]

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Essami bắt đầu sự nghiệp âm nhạc chuyên nghiệp vào năm 2003, cô phát hành album phòng thu đầu tay mang tên O tebe. Cô tiếp tục phát hành bảy album nữa trong sự nghiệp: Slidom za toboyu (2005), Kapli dozhdya (2007), Kukabarra (2008), Taynyye zhelaniya (2008), Tolko segodnya (2010), Viva, Europe! (2012) và Voodooman (2014). Các bài hát của cô được thu âm bằng tiếng Nga, tiếng Ukraina hoặc tiếng Anh. Sau lễ nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên của Barack Obama vào năm 2009, Essami biểu diễn tại một vũ hội nhậm chức đặc biệt để tôn vinh ông ở Kyiv.[4]

Tháng 1 năm 2012, Essami được lựa chọn để tranh tài Evrobachennya 2012, trận chung kết quốc gia Ukraina để chọn đại diện dự thi Eurovision Song Contest 2012. Cô dự thi với bài hát "Be My Guest".[5] Essami tiếp tục giành chiến thắng cuộc thi, xếp thứ nhất theo ban giám chuyên môn và xếp thứ hai theo khán giả Ukraina.[6] Sau khi giành chiến thắng, Essami trở thành nạn nhân của các bình luận phân biệt chủng tộc tới từ các thành viên cực hữu ở Ukraina. Yuriy Syrotyuk (một quan chức cấp cao trong đảng chính trị chủ nghĩa dân tộc Svoboda) cho biết việc lựa chọn Essami làm đại diện của Ukraina dự thi sẽ cản trở khả năng Ukraine gia nhập Liên minh châu Âu, vì cô thể hiện rằng đất nước này giống như họ "thuộc về một lục địa khác vậy". Essami đáp lại các bình luận rằng Ukraina là tổ quốc yêu dấu của mình, và những người Ukraina không phải da trắng không nên cảm thấy họ phải rời đất nước thì mới được chấp nhận.[4]

Tuy nhiên, Essami tiếp tục đại diện cho Ukraina dự thi ở Baku, trở thành người Ukraina gốc Phi đầu tiên đại diện cho Ukraine tại Eurovision Song Contest.[7] Cô tranh tài ở trận bán kết thứ hai vào ngày 24 tháng 5 năm 2012, rồi cô xếp thứ tám nên giành quyền vào trận chung kết. Chung cuộc, cô xếp thứ 15 ở trận chung kết tổ chức vào ngày 26 tháng 5, ghi được tổng cộng 65 điểm.[8][9]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2003 - О тебе (Gaitana and Unity) - About You
  • 2005 - Слідом за тобою - Following You
  • 2007 - Капли дождя - Raindrops
  • 2008 - Kукaбaррa - Kukabarra
  • 2008 - Тайные желания - Secret Desires
  • 2010 - Только сегодня - Only Today
  • 2012 - Viva, Europe!
  • 2014 – Voodooman

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2006 - "Двa вікна" - Two Windows
  • 2007 - "Шaленій" - Go Crazy
  • 2009 - "Нещодавно" (Gaitana và Stas Konkin) - Lately
  • 2012 - "Be My Guest"
  • 2013 - "Aliens"
  • 2014 - "Galaxy"
  • 2020 - "A Paper Plane" (của Aryan King)[10][11]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải Showbiz
    • Ngôi sao châu Âu xuất sắc nhất (giải đặc biệt)
  • Giải thưởng âm nhạc Ukraina
    • Nữ ca sĩ xuất sắc nhất (2008)
    • Album xuất sắc nhất (2008)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Zhuk, Alyona (21 tháng 2 năm 2021). “Racist comments about Gaitana stir controversy, anger” (bằng tiếng Anh). Kyiv Post. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2024.
  2. ^ “ГАЙТАНА: "ХОРОШЕЕ НАСТРОЕНИЕ - ЭТО СВОЕГО РОДА ПРИВЫЧКА..." (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012.
  3. ^ “Гайтана” (bằng tiếng Nga). uajazz.com. 3 tháng 1 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012.
  4. ^ a b c d Lee Adams, William (5 tháng 3 năm 2012). “Ukraine's Eurovision Selection Marred by Right-Wing Racism”. Time (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  5. ^ Omelyanchuk, Olena (26 tháng 1 năm 2012). “Ukraine: 22 candidates in the national final”. Eurovision.tv. Eurosvision Song Contest. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2024.
  6. ^ Omelyanchuk, Olena (18 tháng 2 năm 2012). “Ukraine: Gaitana is the Ukrainian guest in Baku”. Eurovision.tv (bằng tiếng Anh). Eurovision Song Contest. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2024.
  7. ^ Knoops, Roy (1 tháng 6 năm 2017). “Eurovision 2024 Ukraine: Gaitana releases music video for Sonce v Tobi” (bằng tiếng Anh). ESCToday. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2024.
  8. ^ “Scoreboard: Eurovision Song Contest 2012 Semi-Final 2” (bằng tiếng Anh). Liên hiệp Phát sóng châu Âu. 27 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2024.
  9. ^ “Scoreboard: Eurovision Song Contest 2012 Final” (bằng tiếng Anh). Liên hiệp Phát sóng châu Âu. 27 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2024.
  10. ^ “Prominent Ukrainian singer Gaytana and the UN Refugee Agency present a new song and music video for the World Refugee Day 2020” (bằng tiếng Anh). Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn. 22 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  11. ^ “Ukrainian singer Gaitana and UNHCR present a new song "Paper Plane" and video for World Refugee Day”. YouTube. 22 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2024.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]