Giáo hoàng Fêlix III

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thánh Fêlix III
Tựu nhiệm 13 tháng 3 483
Bãi nhiệm 492
Tiền nhiệm Simplicius
Kế nhiệm Gelasius I
Thông tin cá nhân
Tên khai sinh ???
Sinh ???
Rôma, Đế quốc Tây La Mã
Mất 492
Rôma, Odoacer
Các giáo hoàng khác lấy tông hiệu Felix

Fêlix III (Tiếng Anh: Felix III) là người kế nhiệm giáo hoàng Simpliciô và là vị Giáo hoàng thứ 48. Ông đã được suy tôn là thánh của nhà thờ công giáo. Theo niên giám tòa thánh năm 1806 thì ông đắc cử vào năm 482 (483) và ở ngôi trong 9 năm[1]. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định triều đại của ông kéo dài từ ngày 13 tháng 3 năm 483 cho tới ngày 1 tháng 3 năm 492.

Theo Danh lục các giáo hoàng (Liber Pontificalis) thì Fêlix III sinh tại Rôma trong gia đình quý tộc Anicia. Ông là một người góa vợ và là người cha của một gia đình (ông có hai con). Ông là con trai của một linh mục và là ông cố của Giáo hoàng Grêgôriô Cả[2][3]. Tên của ông đáng lẽ phải đặt tên là Fêlix II và các vị Giáo hoàng kế vị sau này có cùng tên phải được ghi số thứ tự thích hợp. Sai sót này do đã có những bảng liệt kê đã đưa xen vào tên của Thánh Fêlix ở Roma, tử vì đạo.

Theo một truyền thuyết thì: Grêgôriô viết rằng khi người cô của ông, thánh Tarsila, đang hấp hối thì Giáo hoàng Fêlix III hiện ra với cô. Ông đã vẫy tay chào cô rồi về Thiên đàng. Vào đêm trước của ngày Giáng sinh, Tarsila qua đời và đã thấy Đức Giêsu hiện ra và vẫy tay[4].

Fêlix đã đạt đến ngai Phêrô với sự ủng hộ của vua dân Hêrulê là Ôđôacrô. Năm 488, Fêlix III gặp phải sự xâm lược nước Ý do Thêôđôricô cả và sự sụp đổ của người bảo vệ cũ của ông. Tại Phi châu, những người Vandal, theo thuyết Ariô, khởi động một cuộc bách hại dữ dội chống người Công giáo.

Vì những giáo huấn sai lầm mà nhiều nhóm người trong Giáo hội đã tự phân chia. Những nhân tố liên quan đến chính trị đã gây khó khăn rắc rối cho sứ vụ của vị Giáo hoàng này. Nhưng Felix III vẫn một mực tỏ ra can đảm trong việc bảo vệ các chân lý Đức tin và quyền lợi của Giáo hội Roma. Mặc dù do Ođôacrô đẩy lên và là bạn của Hoàng đế Đông Phương Zênôn nhưng không bao giờ ông để cho những vị đó khống chế, trái lại còn hãnh diện đòi "Giáo hội có quyền tiến triển theo luật riêng của mình".

Vào năm 484, hoàng đế Zenon đã ban hành chiếu chỉ Henotikos (sắc chỉ hiệp nhất) nhằm dung hòa hai công thức của công đồng Cacledonia và giáo lý của Thuyết Monophysisme bằng một công thức "trung lập" làm ngơ đi đạo lý của Giáo hoàng Lêô I. Giáo hoàng Fêlix III đã phản đối và lên án công thức này[5][6]. Ông cũng truất phế và tuyệt thông Acaciô – Giáo chủ thành Constantinôpôli từ 471 đến 489 (chính sắc lệnh này của ông mà Đức thượng phụ Acaciô đã mang sau lưng long trọng tiến vào nhà thờ. Vị tu sĩ chơi trát bị hành quyết…) Được các tu sĩ và đa số nhân dân thủ đô–vốn ghét Hoàng Đế Zênon–ủng hộ, chính thống đông phương đã bạo dạn đương đầu với kẻ tiếm vị. Acaciô được Hoàng Đế thúc đẩy, đã công khai chống đối. Ông đã bôi tên Đức Giáo hoàng trên bảng đá, đặt trên bàn thờ, để kính nhớ thường xuyên vị thủ lĩnh Giáo hội trong thánh lễ.

Thế là nổ ra vụ ly khai Hy lạp đầu tiên: vụ ly khai của Acaciô. Ly giáo Acace (schisme d’Acace) này đã tách rời khối Đông phương theo phái Nhất tính ra khỏi Rôma trong ba mươi lăm năm (483-518). Sự thống nhất của Giáo hội đã chỉ được lập lại sau khi Acace chết, nhờ Hoàng đế Justinianô I[2].

Tuy nhiên, Feelix III với sự giúp đỡ của Dênô I là người ký một cuộc hưu chiến với dân Vandal, đạt đến chỗ kết thúc những cuộc bách hại người Công giáo Phi châu. Lúc bấy giờ ông lại gặp phải những vấn đề về người Công giáo đã theo thuyết Ariô dưới thời bách hại của Gênsêricô và Hunêricô nay lại ước mong trở lại thành người Công giáo. Những người này vẫn kiên vững trong niềm tin của mình dưới thời bách hại đã từ chối sự trở về này và Feelix III phải gửi một bức thư cho các Giám mục Phi châu đưa ra những điều kiện để các giám mục có thể nhận vào Giáo hội những "con chiên lạc" này. Fêlix III trải qua chín năm trong đời Giáo hoàng và qua đời năm 492. Ông được chôn tại Vương cung thánh đường Thánh Phaolô trên đường Ostian.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Annuario pontificio 1806, Google sách
  2. ^ a ă Coleman, Ambrose. "Pope St. Felix III." The Catholic Encyclopedia. Vol. 6. New York: Robert Appleton Company, 1909. 6 Apr. 2013
  3. ^ R.A. Markus, Gregory the Great and his world (Cambridge: University Press, 1997), p. 8
  4. ^  Sts. Trasilla and Emiliana”. Catholic Encyclopedia. New York: Robert Appleton Company. 1913. 
  5. ^ Evagrius. Hist.Eccd.Quyển III. tr. 14. 
  6. ^ Linh mục Bùi Đức Sinh OP. Lịch sử Giáo hội Công giáo Tập 1. Canada 1999. tr. 146. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • 265 Đức Giáo hoàng, Thiên Hựu Nguyễn Thành Thống, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản tháng 5 năm 2009.
  • Felix III, Các vị Giáo hoàng của giáo hội toàn cầu, hội đồng giám mục Việt Nam [1]
  • Tóm lược tiểu sử các Đức Giáo hoàng, Đà Nẵng 2003,Jos. TVT chuyển ngữ từ Tiếng Anh.
  • Trích Tin Mừng Net "Các Thánh" Susan Helen Wallace, Fsp / Phúc Lộc, CMC chuyển ngữ; Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saint và Santi-Beati-Testimoni.
  • Lịch sử Giáo hội Công giáo, Linh mục O.P Bùi Đức Sinh – giáo sư sử học, Tập I và II, Nhà xuất bản Chân Lý, Giấy phép số: 2386 BTT/PHNT Sài Gòn ngày 28 tháng 7 năm 1972.


Người tiền nhiệm
Simplicius
Danh sách các giáo hoàng
Emblem of the Papacy SE.svg
Người kế nhiệm
Gelasius I