Danh sách giáo hoàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bảng danh sách cổ về các Giáo hoàng, bảng này đã từng bị chôn vùi và quên lãng ngay trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô.

Danh sách các Giáo hoàng tại đây dựa vào niên giám Annuario pontificio được Vatican ấn hành hàng năm. Theo niên giám đó, cho đến nay (2016) đã có 264 giáo hoàng của Giáo hội Công giáo Rôma. Một vị được chọn vào năm 752 (Stêphanô II) nhưng vì mất đột ngột sau đó 3 ngày, trước khi được tấn phong Giám mục, nên đã bị bỏ ra ngoài niên giám kể từ năm 1961.

Ấn bản năm 2001 đang được dùng phổ biến hiện nay của Annuario Pontificio đã giới thiệu với gần 200 sửa chữa về tiểu sử của các Giáo hoàng. Khởi đầu từ Thánh Phêrô, vị Giáo hoàng đầu tiên, cho đến Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Các sự điều chỉnh này liên quan đến ngày tháng, nơi sinh, tên gia đình của từng vị Giáo hoàng.[1] Thuật ngữ Giáo hoàng (tiếng Latinh: papa, tiếng Hy Lạp: πάππας pappas) là vị Giám mục của Giáo phận Rôma, lãnh đạo của Giáo hội Công giáo toàn thế giới. Theo quan điểm của Giáo hội Công giáo, Giáo hoàng là người kế vị Thánh Phêrô - tông đồ trưởng của Chúa Giêsu. Thời gian nhiệm chức của một Giáo hoàng được gọi là triều đại giáo hoàng" và thẩm quyền của ông đối với giáo hội thường được gọi là "quyền tông tòa" (papacy") mà thực thể đại diện quyền lực đó gọi là Tòa Thánh (tiếng Latinh: Sancta Sedes), dựa trên truyền thống Giáo hội cho rằng đó là chiếc ngai tòa của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô khi tử đạo tại Roma.[2]

Một số Giáo hoàng trong danh sách này đã được Giáo hội Công giáo Rôma công nhận là Thánh, trong số 50 vị Giáo hoàng đầu tiên, đã có 46 vị được Tuyên thánh liên tiếp. Tông hiệu được nhiều giáo hoàng được lựa chọn nhất là Gioan, lên đến 23 vị (Gioan XXIII). Có hai vị Giáo hoàng đã được trao tặng danh hiệu Tiến sĩ Hội ThánhGiáo hoàng Grêgôriô IGiáo hoàng Lêô I. Trung bình, triều đại một Giáo hoàng kéo dài khoảng 7,4 năm. Bắt đầu từ giữa năm 33, là triều đại đầu tiên với Giáo hoàng là Thánh Phêrô cho đến năm 2013, khi kết thúc của triều đại Giáo hoàng Biển Đức XVI thì tổng cộng là 1980 năm. Các niên giám về Giáo hoàng đã công nhận, đã có tổng cộng 265 tiều đại giáo hoàng của 263 vị giáo hoàng khác nhau (riêng Giáo hoàng Biển Đức IX tại vị từ năm 1032-1044, tháng 4-5 năm 1045 và từ năm 1046-1047 nên ông được niên giám xác nhận là có 3 triều đại, tên của ông được liệt kê ở vị trí thứ 145,147 và thứ 150 trong danh sách Giáo hoàng).

Đương kim Giáo hoàng Phanxicô (năm 2014).

Ngụy giáo hoàng được định nghĩa là một người mạo nhận là đứng đầu Tòa thánh, chống lại Giáo hoàng đã được bầu lên đúng giáo luật. (It. Antipapa được gộp từ Anti, chống + papa, Giáo hoàng)[3]. Có một số Giáo hoàng đối lập xuất hiện trong thời kỳ sơ khai của Giáo hội Công giáo Rôma. Trong số các vị còn lại, rải rác từ thế kỷ III cho đến đầu thế kỷ XV, có ông rút lui trong một ngày, có ông một tháng, có ông lâu dài. Ða số vì hiểu lầm, nhưng ảnh hưởng chính trị và hoàn cảnh của thời xưa (đế quốc và phong kiến) cũng đóng một vai trò quan trọng. Trong quá khứ, một ngụy Giáo hoàng thường nhận được một sự hỗ trợ đáng kể của các hồng y và các vương quốc. Tuy nhiên những người đòi được như một Giáo hoàng thường chỉ có một nhóm nhỏ theo, giống như các ngụy Giáo hoàng Sedevacantist hiện đại và không được xếp vào trong số những ngụy Giáo hoàng, và do đó được bỏ qua trong danh sách.

Mục lục

Thiên niên kỷ thứ nhất (1 - 1000)[sửa | sửa mã nguồn]

Lên ngôi trong thế kỉ 1 (từ năm 30 (?) đến năm 100)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
01
Năm 30? -
Năm 67?

(37 năm)
Peter
PETRUS
Thánh Phêrô
Shimon ben Yona
(שמעון בן יונה)
Simeon Kephas
(Σιμηον Κηφασ)
Bethsaida, Galilea, Đế quốc La Mã
Ông là một trong 12 Tông đồ của Chúa Giêsu. Ông nhận quyền lãnh đạo tối cao trong Giáo hội từ chính Chúa Giêsu Kitô để chuyển giao cho những người kế vị, đã thiết lập luật lệ cho Giáo hội sơ khai. Ông bị bắt và xin lãnh án bị đóng đinh vào thập giá lộn ngược. Giáo hội Công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 29 tháng 6.[4]
02
Năm 67? -
Năm 79?

(12 năm)
Linus
LINUS
Thánh Linô
Linus Toscana, Đế quốc La Mã
Ông đã tấn phong 15 Giám mục đầu tiên. Ông cấm phụ nữ không được bước vào thánh đường nếu không đội khăn trùm đầu. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 23 tháng 9[5]
03
Năm 79? -
Năm 88

(9 năm)
Anacletus
ANACLETUS
Thánh Anaclêtô
Anacletus Roma, Đế quốc La Mã
Ông đã ấn định những quy tắc thánh hiến các Giám mục, ban hành các quy tắc về y phục giáo sĩ. Trong vùng Vatican, ông đã cho xây một nguyện đường để an táng các vị tử đạo. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 26 tháng 4[6]
04
Năm 88 -
Năm 97

(9 năm)
Evaristus
CLEMENS I
Thánh Clêmentê
Clement Roma, Đế quốc La Mã
Ông đã phục hồi bí tích Thêm sức theo lễ nghi của Thánh Phêrô. Tiếng "Amen" trong các nghi thức tôn giáo được cho là phát xuất từ triều đại của ông. Sau cùng, ông bị hoàng đế Trajanus kết án lưu đày sang Pontus, bị cột neo quanh cổ và ném xuống biển. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 24, 25 tháng 11[7]
05
Năm 97 -
Năm 105

(8 năm)
Evaristus
EVARISTUS
Thánh Êvaristô
Aristus Bethlehem, Judea Ông đã phân chia thành các giáo xứ, cắt đặt 7 phó tế đầu tiên trao phó cho các linh mục lớn tuổi, và đây được coi như nguồn gốc của Hồng y đoàn ngày nay. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 26 tháng 10[7]

Lên ngôi trong thế kỉ 2 (từ năm 101 đến năm 199)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
06
Năm 105 -
Năm 115

(10 năm)
Thánh Alexanđê I
ALEXANDER I
Thánh
Alexanđê I
Alexánder Rôma, Đế quốc La Mã
Việc sử dụng nước phép trong Giáo hội, ở tư gia và việc chỉ định bánh thánh phải được làm bằng bánh không men được phát xuất từ triều đại ông. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 3 tháng 5 [8]
07
Năm 115 -
Năm 125

(10 năm)
Thánh Sixtus
XISTUS I
Thánh Xíttô I
Xystus Roma, Đế quốc La Mã Ông truyền lệnh dùng khăn thánh và chỉ thừa tác viên có chức thánh mới được cầm trực tiếp các đồ thánh. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 3 tháng 4[9]
08
Năm 125 -
Năm 136

(9 năm)
Thánh Telesphorus
TELESPHORUS
Thánh Têlesphôrô
Telesphorus Hy Lạp
Ông sáng tác Kinh Vinh Danh và thêm những kinh nguyện mới vào thánh lễ. Ông thiết lập Bảy Tuần Mùa Chay trước lễ Phục Sinh. Ông truyền mỗi linh mục nên cử hành 3 thánh lễ trong đêm Chúa Giáng Sinh. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 2 tháng 1, giáo hội Hy Lạp kính nhớ vào ngày 22 tháng 2[10]
09
Năm 136 -
Năm 140

(4 năm)
Thánh Hyginus
HYGINUS
Thánh Hyginô
Hyginus Hy Lạp
Ông đã xác định các đặc quyền khác nhau của hàng giáo sĩ và ấn định các cấp bậc trong phẩm trật Giáo hội, đặt ra tục lệ phải có người đỡ đầu khi lãnh bí tích Rửa tội và ấn định tất cả nhà thờ phải được thánh hiến. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh.[11]
10
Năm 140 -
Năm 155

(15 năm)
Thánh Pius
PIUS I
Thánh Piô I
Pius Aquileia,Đế quốc La Mã
Có ý kiến cho rằng ông đã ấn định lễ Chúa Phục Sinh vào Chủ nhật đầu tiên sau trăng tròn tháng 3 Âm lịch. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 11 tháng 7 [12]
11
Năm 155 -
Năm 166

(11 năm)
Thánh Anicetus
ANICETUS
Thánh Anicêtô
Anicitus Syria
Ông ra chỉ dụ cho hàng giáo sĩ không nên để tóc dài. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 17 tháng 4.[13]
12
Năm 166 -
Năm 175

(9 năm)
Thánh Soter
SOTERIUS
Thánh Sôtêrô
Soter Lazio,Đế quốc La Mã
Ông là vị Giáo hoàng của lòng bác ái. Ông xác định hôn nhân là một bí tích nếu được linh mục cử hành. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 22 tháng 4[14]
13
Năm 175 -
Năm 189

(14 năm)
Thánh Eleuterus
ELEUTHERIUS
Thánh Êlêuthêrô
Eleuther Hy Lạp
Ông huỷ bỏ một số tập tục của người Do Thái liên quan đến đồ ăn sạch và không sạch vẫn còn tồn tại ở một số Kitô hữu. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 26 tháng 5[15]
14
Năm 189 -
Năm 199

(10 năm)
Thánh Victor
VICTOR I
Thánh Victor
Victor Bắc Phi
Ông cho phép dùng bất cứ thứ nước nào để rửa tội trong trường hợp khẩn cấp. Ông đấu tranh chống lại các Giám mục châu Á và châu Phi để lễ Phục Sinh được cử hành theo nghi thức Roma. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 28 tháng 7.[16]
15
Năm 199 -
Năm 217

(8 năm)
Thánh Zephyrinus
ZEPHYRINUS
Thánh Zêphyrinô
Zephyrinus Roma, Đế quốc La Mã Ông truyền các giáo hữu 14 tuổi trở lên phải giữ luật rước lễ Mùa Phục Sinh. Triều đại ông nổi bật với những cuộc tranh luận thần học gay gắt. Ông khởi xướng việc dùng đĩa thánh và chén thánh bằng thuỷ tinh. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 20 tháng 12 - ngày mất của ông.[17]

Lên ngôi trong thế kỉ 3 (từ năm 201 đến năm 299)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
16
Năm 217 -
Năm 222

(5 năm)
lớn
CALLIXTUS I
Thánh Calixtô
Callistus Tây Ban Nha
Ông là người đã xây dựng Vương cung thánh đường Santa Maria ở Trastevere, là ngôi thánh đường đầu tiên được cung hiến cho Maria.Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 14 tháng 10 [18]
17
Năm 222 -
Năm 230

(8 năm)
Thánh Urban
URBANUS I
Thánh Urbanô
Urban Roma, Đế quốc La Mã
Ông đã rửa tội cho Thánh Cecilia. Năm 230, sau cuộc tử đạo của vị này, ông đã cho xây một nhà thờ làm nơi đặt di hài thánh nữ ngày nay. Ông chấp thuận việc Giáo hội có quyền sở hữu tài sản.[19]
18
21 tháng 7 năm 230 -
28 tháng 9 năm 235

(5 năm 2 tháng)
Thánh Pontian
PONTIANUS
Thánh Pontianô
Pontianus Roma, Đế quốc La Mã
Ông đã truyền hát Thánh Vịnh và đọc Kinh Cáo Mình trước giờ lâm chung và dùng lời chào "Chúa ở cùng anh chị em". Ông bị đày và bị kết án khổ sai dưới hầm mỏ ở Sardinia, và chết đau đớn trên một đảo nhỏ ở Tavolara. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 13 tháng 8[20]
19
Năm 235 -
3 tháng 1 năm 236

(~ 1 năm)
Thánh Anterus
ANTERUS
Thánh Antêrô
Anterus Hy Lạp
Ông truyền thu thập các hành động và các thánh tích của các vị tử đạo để lưu giữ trong các nhà thờ.[21]
20
10 tháng 1 năm 236 -
20 tháng 1 năm 250

(14 năm)
Thánh Fabian
FABIANUS
Thánh Fabianô
Fabianus Roma, Đế quốc La Mã
Cuộc xuất hành ra khỏi Roma để trốn tránh sự bách hại của Decius đã làm nảy sinh đời sống tu hành của các ẩn sĩ. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 20 tháng 1 [22]
21
Năm 251 -
Tháng 6 năm 253

(~ 2 năm)
Thánh Cornelius
CORNELIUS
Thánh Côrnêliô
Cornelius Triều đại ông xảy cuộc ly giáo đầu tiên. Ông bị lưu đày tới miền Civitavecchia, và qua đời tại đó, vì không chịu dâng hiến lễ vật cho các thần dân ngoại. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 16 tháng 9 [23]
22
25 tháng 6 năm 253 -
5 tháng 3 năm 254

(9 tháng)
Thánh Lucius
LUCIUS I
Thánh Luciô
Lucius Roma,Đế quốc La Mã
ông nghiêm cấm các giáo hữu nam nữ không được chung sống một nhà, nếu không có quan hệ huyết nhục với nhau và cũng chỉ thị các giáo sĩ không nên sống chung một nhà với các nữ phó tế, dù chỉ là cho ở trọ vì lý do bác ái.[24]
23
12 tháng 5 năm 254 -
2 tháng 8 năm 257

(3 năm 3 tháng)
Thánh Stephen
STEPHANUS I
Thánh Stêphanô
Stephanus Roma, Đế quốc La Mã
Cuộc tranh chấp với những người theo phe ly giáo của Giáo hoàng giả Novatianus lại bùng lên. Ông đã bị chém đầu giữa lúc thi hành nhiệm vụ trên ngai Giáo hoàng trong hang toại đạo Thánh Callixtus.[25]
24
31 tháng 8 năm 257 -
6 tháng 8 năm 258

(11 tháng)
Thánh Sixtus II
SYXTUS II
Thánh Xíttô II
Sixtus Hy Lạp
Vốn tính khiêm nhu, ông đã dàn xếp ổn thoả các cuộc tranh luận dưới thời Đức Cornelius, Lucianus và Stephanus và ông đã thực hiện việc di chuyển hài cốt hai Thánh Phêrô và Phaolô. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 6 tháng 8.[26]
25
22 tháng 7 năm 259 -
26 tháng 12 năm 268

(9 năm 5 tháng)
Thánh Dionysius
DIONYSIUS
Thánh Điônisiô
Dionysius Hy Lạp
Ông đã tổ chức lại các giáo xứ ở Roma và đã giành lại tự do cho các Kitô hữu từ tay Gallienus. Ông là vị Giáo hoàng đầu tiên không được ghi vào danh sách các vị tử đạo.[27]
26
5 tháng 1 năm 269 -
30 tháng 12 năm 274

(4 năm 11 tháng)
Thánh Felix
FELIX I
Thánh Fêlix
Felix Roma, Đế quốc La Mã
Ông khẳng định thiên tính và nhân tính của Chúa Giêsu Kitô và giáo lý về hai bản tính trong một ngôi vị.Ông khởi xướng tập tục chôn táng các vị tử đạo dưới gầm bàn thờ và cử hành thánh lễ trên các mộ đó. Sau cùng, ông chịu đau đớn vì cuộc bách hại của Aurelianus. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 30 tháng 12.[28]
27
4 tháng 1 năm 275 -
Tháng 12 năm 283

(8 năm 11 tháng)
Thánh Eutychian
EUTYCHIANUS
Thánh Êutykianô
Eutychianus Ông truyền thi hài các vị tử đạo nên được bọc liệm trong áo "Dalmatic" tương tự như áo choàng rộng các hoàng đế Roma mặc, nay là phẩm phục của các phó tế trong các đại lễ và ông đã thiết lập lễ cầu mùa. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 8 tháng 12 [29]
28
17 tháng 12 năm 283 -
22 tháng 4 năm 296

(13 năm 4 tháng)
Thánh Caius
CAIUS
Thánh Caiô
Caius Ông quy định những ai chịu chức Giám mục phải qua các chức giữ cửa, đọc sách, giúp lễ, trừ tà, phụ phó tế, phó tế và linh mục. Ông tử đạo dưới tay cậu ruột là hoàng đế Diocletianus. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 22 tháng 4.[30]
29
Năm 296 -
Năm 304

(8 năm)
Thánh Marcellinus
MARCELLINUS
Thánh Marcellinô
Marcellinus Ông đã ra lệnh phá huỷ các nhà thờ và sách thánh trong cuộc bách hại của hoàng đế Diocletianus. Giáo hội công giáo suy tôn ông là một vị thánh, mừng lễ vào ngày 26 tháng 4.[31]

Lên ngôi trong thế kỉ 4 (từ năm 301 đến năm 400)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
30
Năm 308 -
Năm 309
Thánh Marcellus
MARCELLUS
Thánh Marcellô
Marcellus Ông phải giải quyết khó khăn là tha thứ cho những kẻ bội giáo trong thời kỳ bách hại. Ông quy định công đồng chỉ được triệu tập khi có lệnh của Giáo hoàng.[32]
31
Năm 309 -
Năm 310
Thánh Eusebius
EUSEBIUS
Thánh Êusêbiô
Eusebius Trong triều đại của ông, các cuộc tranh luận về những kẻ bội giáo lại tiếp tục, đưa Giáo hội gần đến chỗ chia rẽ. Ông thành công trong việc dung hoà giữa kỷ luật và tha thứ. Ông tử đạo tại Sicili.[33]
32
2 tháng 7 năm 311 -
11 tháng 1 năm 314
Thánh Miltiades
MILTIADES
Thánh Miltiadê
Miltiades (hoặc Melchiades) Châu Phi Dưới triều đại ông, hoàng đế Constantinus đã công bố tha đạo (chiếu chỉ Milan năm 313) cho các tín hữu Kitô giáo. Bánh thánh có từ thời kỳ này. Ông cho xây dựng Đền thờ Thánh Joannes Lateranus.[34]
33
31 tháng 1 năm 314 -
31 tháng 12 năm 335
Thánh Silvester
SILVESTER I
Thánh Sylvestrô
Silvester Rôma, Đế quốc La Mã
Ông là vị Giáo hoàng đầu tiên đội mũ ba tầng. Ông chủ toạ Công đồng Chung đầu tiên ở Nicaea năm 325, trong đó Kinh Tin Kính được công bố. Ông ấn định Chúa Nhật là ngày nghỉ việc dành để tưởng niệm Chúa Phục Sinh. Ông đã cho đặt mão gai có đinh sắt trên tượng chịu nạn.[35]
34
18 tháng 1 năm 336 -
7 tháng 10 năm 336
Thánh Marcus
MARCUS
Thánh Máccô
Marcus Roma, Đế quốc La Mã Ông đã ra chỉ thị Giáo hoàng nên được Giám mục Ostia thánh hiến. Ngài đã thiết lập nghi thức trao dây Pallium vẫn còn được dùng tới ngày nay. Lịch những ngày lễ tôn giáo đầu tiên đã xuất hiện trong thời ông.[36]
35
6 tháng 2 năm 337 -
12 tháng 4 năm 352
Thánh Julius
IULIUS I
Thánh Giuliô
Julius Roma, Đế quốc La Mã Ông đề nghị Giáo hội Đông Phương mừng lễ Giáng Sinh 25-12 thay vì mừng chung vào lễ Hiển Linh 6-1. Ông được coi là vị sáng lập Văn khố Toà Thánh từ khi ngài truyền phải lưu giữ tất cả các công văn chính thức.[37]
36
17 tháng 5 năm 352 -
24 tháng 9 năm 366
Liberius
LIBERIUS
Thánh Libêrô
Liberius Những cuộc tranh luận chống lạc giáo Arius tái diễn khiến nảy sinh việc bầu chọn Giáo hoàng giả Felix II. Ông đã đặt móng xây đền thờ Đức Bà Cả, để ghi dấu địa điểm sau trận tuyết rơi ngày 15-8.[38]
37
1 tháng 10 năm 366 -
11 tháng 12 năm 384
Thánh Damasus
DAMASUS I
Thánh Đamasô
Damasus Guimarães, Bồ Đào Nha
Ông đã ban phép cho các ca đoàn do Thánh Ambrosius sáng lập, luân phiên hát Thánh Vịnh. Ông giới thiệu cách dùng từ Do Thái "Alleluia" và tìm được bản dịch Thánh Kinh bằng tiếng Do Thái.[39]
38
11 tháng 12 năm 384 -
26 tháng 11 năm 399
Thánh Siricius
SIRICIUS
Thánh Siriciô
Siricius Rôma, Đế quốc La Mã Ông là người đầu tiên sau Thánh Phêrô dùng tước hiệu "Giáo hoàng" (Papa) từ tiếng Hy Lạp. Đến nay từ này vẫn còn được công nhận, là từ ghép bởi những chữ đầu của thành ngữ: Petri Apostoli Potestatem Accipiens (người nhận quyền của Tông Đồ Phêrô). Ông chủ trương linh mục cần phải sống đời độc thân.[40]
39
27 tháng 11 năm 399 -
19 tháng 12 năm 401
Thánh Anastasius
ANASTASIUS I
Thánh Anastasiô
Anastasius Rôma, Đế quốc La Mã
Ông đã giải quyết cuộc ly giáo giữa Roma và Giáo hội Antioch, mạnh mẽ chống lại những người theo bè rối thực hành vô luân; họ chủ trương thiên tính cũng ẩn tàng trong những đồ vật. Ông chỉ thị các linh mục nên đứng trong khi đọc Tin Mừng.[41]

Lên ngôi trong thế kỉ 5 (từ năm 401 đến năm 500)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
40
22 tháng 12 năm 401 -
12 tháng 3 năm 417
Thánh Innocent
INNOCENTIUS I
Thánh Innôcentê I
Rôma, Ý
Ông thiết lập các nghi thức của lễ nghi Roma và thuyết phục Honorius ngăn cấm những cuộc quyết đấu võ thuật tại các thao trường.[42]
41
18 tháng 3 năm 417 -
26 tháng 12 năm 418
Thánh Zosimus
ZOSIMUS
Thánh Dôsimô
Zosimus Ông có nhân cách mạnh mẽ và quan tâm đến quyền lợi của Giáo hội, chống lại sự can thiệp của bên ngoài. Với quan niệm luân lý khắt khe, ông không cho những người con ngoại hôn được đào tạo thành linh mục. Ông gửi các giám quản tông toà đến Pháp.[43]
42
29 tháng 12 năm 418 -
4 tháng 9 năm 422
Thánh Boniface
BONIFATIUS I
Thánh Bônifaciô I
Sự can thiệp của ông hoàng Charles xứ Ravenna đánh dấu bước khởi đầu cho thời kỳ thế quyền xen vào việc bầu chọn Giáo hoàng. Lễ đăng quang của ông phải hoãn lại mấy tháng, vì sự có mặt của Giáo hoàng giả Eulalius.[44]
43
10 tháng 9 năm 422 -
27 tháng 7 năm 432
Thánh Celestine
COELESTINUS I
Thánh Cêlestinô I
Celestine Không rõ nơi sinh.
Không rõ ngày sinh.
Ông đã triệu tập Công đồng Chung III (năm 431) và kết án những ai theo Nestorius, Giáo chủ Constantinople. Ông đã cử Thánh Patrick tới Ireland.[45]
44
31 tháng 7 năm 432 -
Tháng 8 năm 440
Thánh Sixtus III
SIXTUS III
Thánh Xíttô III
Ông đã cho trang trí Vương cung thánh đường Đức Bà Cả theo lối ghép mảnh. Ông là tác giả một số thư chung và duy trì pháp quyền của Roma trên Illiria chống lại hoàng đế Đông Phương muốn bắt họ phải lệ thuộc Constantinople.[46]
45
29 tháng 9 năm 440 -
10 tháng 11 năm 461
lớn
LEO I
Thánh Lêô I
Leo Tuscany, Ý
Ông được gọi là Leo "Cả" vì có công lớn trong việc gìn giữ sự hợp nhất của Giáo hội. Ông đã triệu tập Công đồng Chung IV và V để khẳng định Mầu nhiệm Nhập Thể.[47]
46
19 tháng 11 năm 461 -
29 tháng 2 năm 468
Thánh Hilarius
HILARIUS
Thánh Hilariô
Hilarius hay Hilarus Sardinia, Ý
Chủ trương của ông là noi theo vị tiền nhiệm vĩ đại của mình. Ông khẳng định phải có một mức độ hiểu biết văn hoá mới trở thành linh mục, các Giáo hoàng và Giám mục không nên bổ nhiệm những người kế vị mình. Ông đã thiết lập một đại diện tông toà ở Tây Ban Nha.[48]
47
3 tháng 3 năm 468-
10 tháng 3 năm 483
lớn
SIMPLICIUS
Giáo hoàng Simpliciô
Simplicius Tivoli, Ý
Trong thời ông, xảy ra cuộc thất trận của hoàng đế Tây Phương và cuộc ly giáo, từ đó dẫn đến việc thành lập các Giáo hội Armenia, Syria và Ai Cập. Ông đã quy định việc phân phối các lễ vật dâng cúng của khách hành hương cho các thánh đường mới, ông được Giáo hội Tây phương suy tôn là thánh nhưng không được giáo hội Đông phương liệt kê trong danh sách các vị giáo hoàng được phong thánh.[49]
48
13 tháng 3 năm 483 -
1 tháng 3 năm 492
lớn
FELIX III
Thánh Fêlix III
Roma, Ý
Vì Felix II là Giáo hoàng Đối lập nên có danh sách bắt đầu với II và có danh sách bắt đầu với III cho các Felix từ vị này về sau. Ông đã cố gắng tái lập hoà bình trong Giáo hội Đông Phương bị khủng hoảng.[50]
49
1 tháng 3 năm 492 -
21 tháng 11 năm 496
lớn
GELASIUS I
Thánh Gêlasiô I
Gelasius Roma, Ý
Ông thiết lập bộ luật thống nhất các lễ nghi và nghi thức. Vì lòng bác ái của ông, ông được gọi là "cha của người nghèo". Ông chủ trương thần quyền trên thế quyền. Ông thêm Kinh Thương Xót vào thánh lễ.[51]
50
24 tháng 11 năm 496 -
19 tháng 11 năm 498
lớn
ANASTASIUS II
Giáo hoàng Anastasiô II
Ông đã chinh phục vua Clovis và cả dân Pháp trở lại đạo. Ông bị kiệt sức vì những phe phái lạc giáo, thậm chí còn bị tố cáo là gây chia rẽ.[52]
51
22 tháng 11 năm 498 -
19 tháng 7 năm 514
lớn
SYMMACHUS
Thánh Symmacô
Symmachus Sardinia, Ý
Ông củng cố sở hữu của Giáo hội về việc cho phép hàng giáo sĩ sử dụng những phúc lợi thường ngày. Ông đã chuộc lại tất cả các nô lệ và cho họ được hưởng tự do. Ông có công xây dựng khởi đầu Toà Thánh Vatican.[53]

Lên ngôi trong thế kỉ 6 (từ năm 501 đến năm 600)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
52
20 tháng 7 năm 514 -
19 tháng 7 năm 523
lớn
HORMISDAS
Thánh Hormisđa
Hormisdas Lazio (Ý) Trong suốt triều đại Giáo hoàng của ông đã diễn ra cuộc hoà giải cuối cùng giữa Giáo hội Đông Phương và Tây Phương. Ông quyết định không được phong chức Giám mục cho những người vì đặc ân và ban thưởng. Ông là một người đã lập gia đình và góa vợ trước khi được truyền chức.Ông đã có một người con trai sau này trở thành Giáo hoàng Silverius.[54]
53
13 tháng 8 năm 523 -
18 tháng 5 năm 526
lớn
IOANNES I
Thánh Gioan I
Triều đại của ông đầy sóng gió vì sự thù hằn của Hoàng đế Theodoric.[55]
54
13 tháng 7 năm 526 -
22 tháng 9 năm 530
lớn
FELIX IV
Thánh Fêlix IV
Sanniti (Ý) Trong suốt triều đại của ông, lối sống ẩn tu lan rộng khắp nước Ý và Đan viện Montecassino được xây dựng. Ông đã cấm các cuộc thảo luận về người kế nhiệm Giáo hoàng khi vị Giáo hoàng còn tại thế. Phần lớn giới tăng lữ đã chống lại ý định của Giáo hoàng Felix[56]
55
22 tháng 9 năm 530 -
17 tháng 10 năm 532
lớn
BONIFATIUS II
Giáo hoàng Bônifaciô II
Roma Ông được đắc cử do sự lựa chọn của vị Giáo hoàng tiền nhiệm: Giáo hoàng Felix IV lúc nằm trên giường bệnh sắp lâm chung. Có một thời gian ông đã bị coi là Ngụy giáo hoàng. Do nhóm đối lập đã bầu Giáo hoàng Dioscorus.[57]
56
2 tháng 1 năm 533 -
8 tháng 5 năm 535
lớn
IOANNES II
Giáo hoàng Gioan II
Mercurius Ông là vị Giáo hoàng đầu tiên đã đổi tên riêng của mình là Mercurius, tên của thần dân ngoại, sang tên hiệu Joannes. Kể từ đây khi đăng toà, các Giáo hoàng đều đổi tên, lấy tên một tông đồ, một đấng thánh hoặc một vị tiền nhiệm vinh quang. Bất chấp chiếu chỉ của vua Atalaric, Giáo hoàng vẫn được nhìn nhận là thủ lĩnh của các Giám mục trên toàn thế giới.[58]
57
13 tháng 5 năm 535 -
22 tháng 4 năm 536
lớn
AGAPITUS I
Thánh Agapêtô I
Ông ra nhiều nghị quyết chống giáo phái phản Công Đồng Chalcêđônia, chống bè rối Mani, chống Do thái và chống ngoại giáo. Ông bị hoàng hậu Theodora, một tín đồ theo bè rối Eutiches, đầu độc.[59]
58
1 tháng 6 năm 536 -
11 tháng 11 năm 537
lớn
SILVERIUS
Thánh Silvêriô
Silverius Ông được yêu cầu xét lại vụ Anthimô, thượng phụ Constantinopoli, bị tình nghi theo thuyết Đơn tính, và bị Đức cố Giáo hoàng kết án, ông đã từ chối. Ông bị xử về tội "phản quốc", bị đày sang xứ Pontô (Palmarola, Italy)[60]
59
29 tháng 3 năm 537 -
7 tháng 6 năm 555
lớn
VIGILIUS
Giáo hoàng Vigiliô
Vigilius Roma Ông cương quyết chống lại chính sách của hoàng đế Justianô trong vụ "Ba Chương" (Trois Chapitres). Tên của Giáo hoàng Vigiliô lúc bấy giờ bị xóa tên trên "thư giáp bảng" (diptique), nơi ghi danh tính các Giáo hoàng. Ông bị tố cáo là bội giáo, vì người ta cho rằng khi luận phi "Ba đoạn" tức là ông đã "tự rút khỏi giáo hội công giáo". Nhưng trên thực tế, ông vẫn trung thành với lập trường của Cacledonia, được vạch rõ trong bản tuyên ngôn đề ngày 11 tháng 4 năm 548[61]
60
16 tháng 4 năm 556 -
4 tháng 3 năm 561
lớn
PELAGIUS I
Giáo hoàng Pêlagiô I
Pelagius Roma Ông đã góp phần giảm bớt tình trạng khốn khổ tại Ý, sau những cuộc xâm lược của dân Goths, Ông cũng dẹp bỏ tình trạng buôn thần bán thánh và đưa về hiệp nhất với Rôma. Ông giữ lòng trung thành với những nguyên tắc của Công giáo Chính Thống. Ông thừa nhận các quyết định của Công Đồng Constantinople, ủng hộ lạc giáo Eutyche.[62]
61
17 tháng 7 năm 561 -
13 tháng 7 năm 574
lớn
IOANNES III
Giáo hoàng Gioan III
Catelinus Ông cứu nước Ý thoát khỏi người Man Di, vì trong cuộc tiến công tàn bạo của quân Lombard theo lệnh Narsete. Ông đã tập họp tất cả những người dân Ý chống lại những hành động dã man của quân xâm lăng.[63]
62
2 tháng 6 năm 575 -
30 tháng 7 năm 579
lớn
BENEDICTUS I
Giáo hoàng Biển Đức I
Benedictus Ông cố gắng hoài công, để tái lập trật tự trong nước Ý và Pháp bị hỗn độn vì quân Lombard xâm lược và những rối ren nội bộ. Ông phê chuẩn Công đồng Chung V tại Constantinople. Ông qua đời khi thành Roma bị vây hãm trong cuộc xâm lăng của người Lombard.[64]
63
26 tháng 11 năm 579 -
7 tháng 2 năm 590
lớn
PELAGIUS II
Giáo hoàng Pêlagiô II
Pelagius Roma Ông tận tâm lo việc xoá bỏ đau khổ của người nghèo, người đau ốm và người già, làm nhiều việc để chăm sóc họ và thậm chí đi đến độ biến nơi ở của mình thành nơi trú ẩn cho những người này. Ông cũng nổi tiếng về sự dung thứ sự kết hôn của các linh mục nếu những người này không còn chuyển các tài sản của Giáo hội cho vợ con của họ nữa. Người ta cho rằng ông qua đời vì bị nhiễm bệnh dịch hạch khủng khiếp.[65]
64
3 tháng 9 năm 590 -
12 tháng 3 năm 604
lớn
GREGORIUS I
Thánh Grêgôriô I
Gregorius Roma Grêgôriô được nâng lên một vị trí ngang hàng với Thánh Augustine, Thánh Ambrôsiô và Thánh Giêrôme như một trong bốn vị tiến sĩ nòng cốt của Giáo hội Tây Phương. (Xét về thời gian, Giáo hoàng Grêgôriô I thuộc giai đoạn ba, nhưng được xếp vào "tứ trụ" Giáo hội Tây phương do ảnh hưởng lớn lao của ông). Là người của hành động song ông cũng viết nhiều sách thần học theo tư tưởng của thánh Ambroise và thánh Augustin. Cả một thời trung cổ rồi sẽ sống theo thần học của ông, một học thuyết có phần vắt tắt nhưng khỏe khoắn. Ông là người đã tái khẳng định quyền của Giáo hoàng về mặt dân sự, khởi đầu cho thời kỳ "năng quyền thế tục" của Giáo hoàng

[66]

Lên ngôi trong thế kỉ 7 (từ năm 501 đến năm 700)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
65
13 tháng 9 năm 604 -
22 tháng 2 năm 606
lớn
SABINIANUS
Giáo hoàng Sabinianô
Blera (Ý) Ông quy định phải thắp đèn chầu trong các nhà thờ. Một khi đã được bầu làm Giáo hoàng, ông làm mọi cách để hạ uy tín của Đức Gregory bằng những cáo trạng vô căn cứ vì lòng ganh tị với Đức Gregory, một người tiền nhiệm rất được quý trọng. Ông chết dữ vào tháng 6 năm 606.[67]
66
19 tháng 2 năm 607 -
12 tháng 11 năm 607
lớn
BONIFATIUS III
Giáo hoàng Bônifaciô III
George Hiltion Roma Ông đã có được tước hiệu Giám mục hoàn vũ; một tước hiệu chỉ thuộc về Giám mục Rôma (Thượng phụ Constatinôpooli cũng mang tước hiệu này). Ông cũng đã ngăn cấm việc sắp xếp vận động cho cuộc bầu chọn Giáo hoàng mới trong 3 ngày (hiện nay là 9 ngày) sau khi vị tiền nhiệm qua đời. Khi trở thành Giáo hoàng, ngài đạt được một tuyên ngôn dựa theo Phocas, rằng chỉ có Giám mục Rôma mới có thể triệu tập "Công Đồng Đại Kết". Ông chỉ thị công bố Giáo hoàng là Giám mục Roma và cũng là Giám mục toàn cầu.[68]
67
25 tháng 8 năm 608 -
8 tháng 5 năm 615
lớn
BONIFATIUS IV
Thánh Bônifaciô IV
Ông đã thánh hiến đền thờ ngoại giáo của Agrippa, còn gọi là đền Pantheon để kính nhớ Đức Nữ Trinh và các thánh. Ông đã lập ra lễ Các Thánh 1-11. Ông cũng ra chỉ thị nâng cao luân lý và vật chất cho hàng giáo sĩ cấp thấp.[69]
68
19 tháng 10 năm 615 -
8 tháng 11 năm 618
lớn
ADEODATUS I
Thánh Ađêôđatô I
Deusdedit Roma Ông đã săn sóc những người phong cùi và nạn nhân dịch tễ. Dưới triều Giáo hoàng của ông sự độc lập khỏi thế lực Byzantine bắt đầu ngày càng rõ ràng và mạnh mẽ. Ông là vị Giáo hoàng đầu tiên đã dùng dấu niêm phong các chỉ thị và tông sắc. Ấn mộc của Adeodatus là tông triện cổ nhất còn lưu giữ ở Vatican.[70]
69
23 tháng 12 năm 619 -
25 tháng 10 năm 625
lớn
BONIFATIUS V
Giáo hoàng Bônifaciô V
Napoli (Ý) Ông ban đặc ân đền thờ cho những người bị bách hại trú ẩn trong các nhà thờ. Bonifacius V quan tâm đặc biệt đến Giáo hội Anglo-Saxon. Trong triều Giáo hoàng của ông diễn ra cuộc chạy trốn của Mohammed khỏi Mekka.[71]
70
27 tháng 10 năm 625 -
12 tháng 10 năm 638
lớn
HONORIUS I
Giáo hoàng Hônôriô I
Ông đã gửi các thừa sai đi khắp thế giới thời ấy và đã lập lễ Suy tôn Thánh Giá Chúa vào 14-9. Ông giải quyết xung đột giữa Giáo hội Đông Phương và phe ly giáo Aquileia về vấn đề "Ba Chương". Honorius I là một người quản lý tài giỏi. Ông cho tái thiết hệ thống cống dẫn nước ở Trajan và tu bổ lại mái của Đền Thánh Phêrô.[72]
71
Tháng 10 năm 638
2 tháng 8 năm 640
lớn
SEVERINUS
Giáo hoàng Sêvêrinô
Roma Mặc dù triều đại của ông rất ngắn ngủi, không đầy ba tháng nhưng ông cũng đã lên án sắc lệnh trình bày tín lý (Ecthèse) bênh vực các thuyết nhất ý của Heraclius I. Hoàng đế Heraclius I, liên kết về mặt chính trị với Sergiô (thượng phụ Constantinôpôli) ra lệnh cho tất cả thần dân của ông tán thành tập công thức thuyết Nhất ý do ông soạn thảo.[73]
72
24 tháng 12 năm 640 -
12 tháng 10 năm 642
lớn
IOANNES IV
Giáo hoàng Gioan IV
Dalmatia Ông cố gắng đưa những tín hữu lầm lạc của Ai Cập trở về đường chân lý. Ông theo đường lối của vị tiền nhiệm và bảo vệ, đặc biệt, các công trình và đồ lưu niệm của Đức Honorius. Ông cho đưa di tích của các vị tử đạo Venantius, Anastasius và Maurus về đền thờ Lateranus và phong chức 28 linh mục và 18 Giám mục để khẳng định đức tin của họ.[74]
73
24 tháng 11 năm 642 -
14 tháng 5 năm 649
lớn
THEODORUS I
Giáo hoàng Thêôđôrê I
Theodoro Palestine Ông là người đầu tiên đã lấy lại tước hiệu Giám mục tối cao đã bị bỏ xó không dùng nữa từ thời tàn của tôn giáo Rôma cổ. Kể từ vị Giáo hoàng này, người ta có thể nói về chức Giám mục mà không phạm sự lỗi thời. Ông cũng chống lại thuyết Nhất Ý và bị Hoàng Đế Constans II ngăn cấm việc giải quyết các vấn đề thần học[75]
74
Tháng 7 năm 649 -
16 tháng 9 năm 655
lớn
MARTINUS I
Thánh Máctinô I
Martin I là vị Giáo hoàng cuối cùng chịu tử vì đạo. Ông cùng với Maxime đã triệu tập công đồng chung (Công đồng Latran) từ ngày 5 tới ngày 31 tháng 10 năm 649, gồm 500 Giám mục để lên án lạc giáo và ly giáo.[76]
75
10 tháng 8 năm 654 -
2 tháng 6 năm 657
lớn
EUGENIUS I
Thánh Êugêniô I
Roma Cuộc bầu chọn ông diễn ra một năm trước khi Giáo hoàng Martinus I qua đời. Eugenius I được bầu làm Giáo hoàng do sự áp đặt của Constans. Khi cuối đời ông mới hoàn lương qua việc công khai hoá những sự sỉ nhục và bách hại mà Đức Martin đã phải chịu. Ông kịch liệt phản đối những âm mưu của hoàng đế và thông tin cho các nước Âu Châu về cái chết đau buồn của vị tiền nhiệm. Ông ra chỉ thị buộc tất cả các linh mục giữ đức khiết tịnh[77]
76
30 tháng 7 năm 657 -
27 tháng 1 năm 672
lớn
VITALIANUS
Thánh Vitalianô
Ông là vị Giáo hoàng đầu tiên quy định loại nhạc cụ trong phụng vụ, cho dùng đàn organ trong các lễ nghi tôn giáo. Sau khi Constans chết, Ông đã thành công trong việc thiết lập mối giao hảo với Constantine, con trai của Constans, nhờ đó mà có hoà bình giữa Rôma với Constantinople.[78]
77
11 tháng 4 năm 672 -
17 tháng 6 năm 676
lớn
ADEODATUS II
Giáo hoàng Ađêôđatô II
Ông là vị Giáo hoàng đầu tiên dùng công thức "Chúc sức khoẻ và phép lành Toà Thánh" trong các thư từ của mình. Trong thời kỳ của ông một mối nguy hiểm mới đe doạ Kitô giáo: quân Saracens. Đức Adeodatus ban dân Venetians quyền bầu tổng trấn cho chính họ.[79]
78
2 tháng 11 năm 676 -
11 tháng 4 năm 678
lớn
DONUS
Giáo hoàng Đônô
Ông đã chấm dứt việc ly giáo ở Ravenna, khuyến khích các Giám mục trợ giúp các trường học mới trong xứ Pháp thuộc Đức và trường Cambridge ở Anh. Là bạn của Hoàng Đế Constantine IV, ông được giúp đỡ để vượt qua được cuộc ly giáo giữa Rôma và Ravenna. Ông ủng hộ việc thành lập các trường học, trong đó có hai trường trở thành những trung tâm văn hoá nổi tiếng: Cambridge và Triers.[80]
79
27 tháng 6 năm 678 -
10 tháng 1 năm 681
lớn
AGATHO
Thánh Agathô
Agatho Sicilia (Ý) Ông đã chấm dứt hơn 60 năm cơn khủng hoảng "Nhất Ý chủ nghĩa". Ông đã gìn giữ những mối quan hệ chặt chẽ với các Giám mục Anh và khích lệ Ireland như là một trung tâm văn hoá. Agatho được gọi là "Thánh chữa bệnh" vì nhiều phép lạ ông đã làm.[81]
80
Tháng 12 năm 681 -
3 tháng 7 năm 683
lớn
LEO II
Thánh Lêô II
Sicilia (Ý) Ông yêu cầu Hoàng Đế Constantine IV ban hành sắc lệnh thiết lập trình tự lễ phong chức Giám mục Ravenna phải được tổ chức tại Rôma và chỉ sau khi có chứng thư đệ trình lên Đức Giáo hoàng. Ông đưa Nước Thánh vào dùng trong lễ nghi Kitô giáo.[82]
81
26 tháng 6 năm 684 -
8 tháng 5 năm 685
lớn
BENEDICTUS II
Thánh Benedict
Ông là một học giả uyên bác và có công hàn gắn những chia rẽ của Giáo hội La mã và Đông Phương. Triều Giáo hoàng của ông được đánh giá bởi sự chú ý của ông đến những người nghèo khổ, gần như là chủ nghĩa dân túy (populisme).[83]
82
12 tháng 7 năm 685 -
2 tháng 8 năm 686
lớn
IOANNES V
Giáo hoàng Gioan V
Syria Ông tái lập trật tự cho các giáo phận ở Sardegna và Corse, tranh đấu cho Toà Thánh quyền bổ nhiệm các Giám mục ở các hải đảo này.[84]
83
21 tháng 10 năm 686 -
22 tháng 9 năm 687
lớn
CONON
Giáo hoàng Cônon
Ông đã nâng Thánh Kilianô, nhà truyền giáo Ái Nhĩ Lan, lên hàng Giám mục và sai đi rao giảng đức tin tại Francônia. Thời Giáo hoàng của ông, Giáo hội bị khủng hoảng trầm trọng. Ông đã được bầu làm Giáo hoàng vào lúc tuổi đã quá cao để cho quân đội Rôma và hàng giáo sĩ lúc bấy giờ đang bất hòa với nhau có thời gian nghỉ ngơi để tìm một người kế vị ngai thánh Phê-rô làm vừa lòng cả hai phe.[85]
84
15 tháng 12 năm 687 -
8 tháng 9 năm 701
lớn
SERGIUS I
Thánh Sergiô I
Sicilia (Ý) Ông đã cương quyết loại trừ phái lạc giáo nổi dậy ở Rôma và chặn đứng được cuộc ly giáo của Aquileia. Ông đưa vào phụng vụ Kinh Lạy Chiên Thiên Chúa. Ông gặp phải xung đột căng thẳng với Hoàng Đế Justinian II mới, hoàng đế này cho triệu tập một công đồng nhưng không mời Giáo hoàng. Justinian đã ra lệnh bắt Giáo hoàng. Sự kiện này dẫn đến cuộc nổi dậy của dân chúng và hoàng đế Justinian bị lưu đày.[86]

Lên ngôi trong thế kỉ 8 (từ năm 701 đến năm 800)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Ảnh Thời gian Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
85
30 tháng 10 năm 701 -
11 tháng 1 năm 705
lớn
IOANNES VI
Giáo hoàng Gioan VI
Hy Lạp Triều đại của ông ở trong một giai đoạn cực kỳ khó khăn của Kitô giáo, vừa loại trừ quân Saracens và Tây Ban Nha, ông đã bảo vệ các quyền lợi của Giáo hội chống lại hoàng đế và chuộc lại nhiều nô lệ. Ông cũng đã phải đương đầu với hoàng đế Phương Tây. Khi hoàng đế Phương Tây cố bỏ tù Đức John.

[87]

86
1 tháng 3 năm 705 -
18 tháng 10 năm 707
lớn
IOANNES VII
Giáo hoàng Gioan VII
Hy Lạp Ông không chấp nhận mưu đồ đen tối của hoàng đế Justinianus II là kẻ đã khởi xướng những cuộc tàn sát khiến cho các dân tộc La Tinh ngày càng xa cách nhau và xa cách với Đông Phương. Ông chống lại Justinian II. Ông trở lại nắm quyền và đưa ý kiến của một vị Giáo hoàng lên như thể một giáo huấn để chống lại Constantinople.[88]
87
15 tháng 1 năm 708 -
4 tháng 2 năm 708
lớn
SISINNIUS
Giáo hoàng Sisinniô
Syria Triều đại Giáo hoàng của ông rất ngắn ngủi, chỉ kéo dài có 21 ngày do ông qua đời vì lâm trọng bệnh[89]
88
25 tháng 3 năm 708 -
9 tháng 4 năm 715
lớn
CONSTANTINUS
Giáo hoàng Constantinô
Constantinus Syria Giáo hoàng Constantinus đã làm cho hoàng đế Giustinianô II chấp nhận các lý do Giáo hoàng Sergiô I (678-701) từ chối chuẩn y các nghị quyết của công đồng "vòm" năm 691. Sự dàn xếp tạm thời này được ký kết tại Byzancia [90]
89
19 tháng 5 năm 715 -
11 tháng 2 năm 731
lớn
GREGORIUS II
Thánh Grêgôriô II
Ông tổ chức các thượng hội đồng để chấn chỉnh các nhũng lạm, ngăn chặn lạc giáo và cổ vũ tinh thần kỷ luật và luân lý. Ông tái xây dựng một phần lớn các tường thành Rôma để bảo vệ thành phố này chống với các cuộc tấn công của quân Lombard. Gregorius II tái thiết nhiều nhà thờ, và đặc biệt rất quan tâm đến người đau yếu và người già. Ðan viện lớn gần nhà thờ Thánh Phaolô đã được tái thiết, tu viện của Monte Cassino do quân Lombard đã phá hủy cách đó 150 năm. Gregorius II tấn phong Thánh Boniface và Thánh Corbinian làm Giám mục để đi truyền giáo cho các sắc dân ở Ðức.[91]
90
18 tháng 3 năm 731 -
28 tháng 11 năm 741
lớn
GREGORIUS III
Thánh Grêgôriô III
Syria Giáo hoàng có biệt danh là "bạn của những người nghèo khó và những kẻ khốn cùng". Ông nổi bật về nhân đức và văn hóa. Ông tăng thêm gấp bội những mối quan hệ với các thủ lãnh tinh thần và dân sự. Ông tổ chức hàng giáo phẩm, phân lãnh thổ Đức thành nhiều địa phận:mỗi Giám mục mang trách nhiệm một vùng nhất định, và giáo dân trực thuộc hàng giáo phẩm địa phương[92]
91
3 tháng 12 năm 741 -
22 tháng 3 năm 752
lớn
ZACHARIAS
Thánh Dacaria
Zacharias Hy Lạp Ông là người Đông Phương, Hylạp cuối cùng trong danh sách Giáo hoàng. Ông nổi tiếng về lòng trắc ẩn và được thán phục bởi khả năng thuyết phục. Ông rất khéo léo trong hoạt động chính trị. Giáo hoàng Zacharius nắm giữ việc xây dựng hòa bình và cứu người dân thoát khỏi những cuộc chinh chiến thảm khốc.[93]
23 tháng 3 năm 752 -
25 tháng 3 năm 752
lớn
STEPHANUS II
Giáo hoàng Stêphanô II
Không có trong danh sách chính thức của Vatican nhưng có trong Catholic Encyclopedia; Do đó trong nhiều danh sách các Stephanus sau này bắt đầu với II.[94].
92
26 tháng 3 năm 752 -
26 tháng 4 năm 757
lớn
STEPHANUS II
Giáo hoàng Stêphanô II
Ông công bố: không một giáo dân nào được bầu làm Giáo hoàng nếu chưa được làm hồng y.[95]
93
29 tháng 5 năm 757 -
28 tháng 6 năm 767
lớn
PAULUS I
Thánh Phaolô I
Paulus III đã cổ vũ sự liên kết sâu xa hơn với Giáo hội Hy Lạp. Ông đi thăm các nhà tù và giúp đỡ những tù nhân bị kết án vì nợ nần. Trong triều đại của ông có hai ngụy Giáo hoàng là Constantinus và Philippus.
94
1 tháng 8 năm 767 -
24 tháng 1 năm 772
lớn
STEPHANUS III
Giáo hoàng Stêphanô III
Sicilia (Ý) Ông cố gắng tránh các bất đồng nội bộ và sự chống đối do việc vừa phải thề trung thành với hoàng đế vừa làm Giáo hoàng. Stephanus IV không bận tâm để ý ngay đến hoàng đế mới, Louis. Làm như vậy để cho hoàng đế hiểu rằng, ông nhìn nhận quyền lực chính trị của hoàng đế nhưng đó không phải việc lãnh đạo tinh thần.[95]
95
1 tháng 2 năm 772 -
26 tháng 12 năm 795
lớn
HADRIANUS I
Giáo hoàng Ađrianô I
Roma Giáo hoàng Hadrianus là một chính khách khôn khéo ý thức được phẩm cách của mình. Ông bắt đầu liên kết với Charlemagne và chấm dứt sự thống trị của Longobards ở Ý.Ông bắt đầu một cuộc khôi phục quy mô các ngôi thánh đường ở Rôma và xây dựng Nhà Tế Bần Thánh Thần (Santo Spirito Hospital) vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Ông cho phục hồi các bức tường thành Roma và các hào luỹ cổ xưa và cho cho đúc bức tượng bằng vàng trên mộ Thánh Phêrô và lót sân bằng bạc ở phía trước bàn thờ Toà Cáo Giải.[96]
96
26 tháng 12 năm 795 -
12 tháng 6 năm 816
Thánh Lêô III
LEO III
Thánh Lêô III
Đảo chính xảy ra trong thời gian ông làm Giáo hoàng và nhờ có vua Charlemagnes, Ông trở về Roma nắm quyến vào mùa thu 799. Với sự giúp đỡ của Charlemagne, Ðức Lêô đã dẹp được lạc thuyết Thừa Tự. Khi Charlemagne từ trần năm 814 và Ðức Lêô không còn ai bảo vệ, quân thù lại nổi dậy chống đối ông. Với tất cả uy thế và quyền bính cá nhân, ông đã dẹp tan âm mưu nổi loạn của giới quý tộc ở Campagna. Tuy nhiên, ông vẫn bị giới quý tộc khinh miệt vì ông xuất xứ từ giới bình dân[97]

Lên ngôi trong thế kỉ 9 (từ năm 801 đến năm 900)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
97
22 tháng 6 năm 816 -
24 tháng 1 năm 817
lớn
STEPHANUS IV
Giáo hoàng Stêphanô IV
Stefano Roma
98
25 tháng 1 năm 817 -
11 tháng 2 năm 824
lớn
PASCHALIS I
Thánh Pascalê I
Pascale Massimi Roma Ông là người nhiệt thành và sốt sắng sùng kính các thánh tử đạo. Ông đã cho khai quật vô số tích thánh và cho lưu giữ tại nhiều thánh đường. Đặc biệt, ông cho mở thi hài Thánh Cecilia ở Hang Toại Đạo San Callisto. Ông say sưa khám phá các hang toại đạo và tìm được hơn 2.300 vị tử đạo. Ông cũng mở ra ở Rôma một nơi trú ẩn cho những người Hy-lạp bị cuộc bách hại của những người bài ảnh tượng buộc phải rời Đông phương[98]
99
8 tháng 5 năm 824 -
Tháng 8 năm 827
lớn
EUGENIUS
Giáo hoàng Êugêniô II
Roma Ông được coi như người khai sinh các chủng viện và thành lập một hội đồng tối cao, để thi hành các khoản Giáo luật. Giả thuyết cho rằng đây là nguồn gốc của Giáo triều Rôma ngày nay. Chính sách của ông không rõ ràng cho lắm để rồi triều Giáo hoàng của ông chịu sự kiểm soát của Aachen như trước đây đã từng chịu sự khống chế của Constantinopolis.[99]
100
Tháng 8 năm 827 -
Tháng 9 năm 827
lớn
VALENTINUS
Giáo hoàng Valentinô
Roma Ông rất được dân chúng, quý tộc và giáo sĩ yêu mến, vì sự tốt lành, lòng bác ái và đạo đức của ông. Người ta ít biết đến ông vì thời gian trị vì của ông rất ngắn: khoảng 40 ngày hoặc 1 tháng[100]
101
Năm 827 -
Tháng 1 năm 844
lớn
GREGORIUS IV
Giáo hoàng Grêgôriô IV
Ông đã tổ chức quân đội hùng hậu dưới sự điều khiển của quận công xứ Tuscany, và 5 lần chiến thắng quân Saracens ở Phi Châu. Khoảng năm 830, ông cung hiến một đại thánh đường dâng kính các thánh và lễ các thánh bắt đầu có từ đấy[101]
102
Tháng 1 năm 844 -
7 tháng 1 năm 847
lớn
SERGIUS II
Giáo hoàng Sergius II
Roma Chỉ mình ông có quyền trao dây Pallium và chỉ mình Giáo hoàng chủ tọa lễ nghi xức dầu tấn phong hoàng đế. Ông cho lắp ráp lại các bậc thang của "Toà giảng" được gọi là "Cầu thang thánh".[102]
103
Tháng 1 năm 847 -
17 tháng 7 năm 855
lớn
LEO IV
Thánh Lêô IV
Roma Ông là vị Giáo hoàng đầu tiên đánh dấu các văn kiện chính thức của ông theo niên hiệu triều Giáo hoàng của mình. Ông ban cho dân Venice quyền bầu chọn vị tổng trấn của họ. Lêô IV đã bảo vệ Rôm?a chống lại quân Hồi Giáo[103]
104
Năm 855 -
7 tháng 4 năm 858
lớn
BENEDICTUS III
Giáo hoàng Biển Đức III
Biển Đức III là người thánh thiện, nhưng yếu đuối, 3 năm triều ông ghi dấu sự thoái bộ của quyền Giáo hoàng. Các Tổng Giám mục xứ Gaule lợi dụng để gia tăng sự tự trị của họ. Ông đã cố gắng liên kết các phe nhóm khác nhau để chống lại quân Saracens và nhấn mạnh đến vai trò gia đình và nêu cao bí tích hôn phối. Ông là vị Giáo hoàng có học thức và rộng lượng dấn thân chủ yếu làm công việc từ thiện đối với người nghèo và đau ốm.[104]
105
24 tháng 4 năm 858 -
13 tháng 11 năm867
lớn
NICOLAUS I
Thánh Nicholas
Ông cư xử như một nhà chuyên chế tuyệt đối ra luật pháp và điều kiện cho các Giám mục, hồng y và hoàng đế. Mục đích của ông rất rõ: thiết lập quyền Giáo hoàng trên hết mọi quyền bính dưới đất. Nicôla I là vị Giáo hoàng đầu tiên được nền văn minh Âu châu nhìn nhận là vị lãnh đạo của mình, là vị Giáo hoàng Trung Cổ đầu tiên. Ông ấn định lễ Đức Mẹ Lên Trời vào ngày 15-8. Ông cũng là Giáo hoàng đầu tiên đội mũ triều thiên. Giáo hoàng đã đặt Toà Thánh Phêrô vào một địa vị chưa từng có. Thoát khỏi sự thống trị của Byzancia, thoát ách chư hầu Đế quốc Carôlô, Giáo hoàng Chế quả đã lên đến thượng đỉnh thế giới Kitô giáo.[105]
106
14 tháng 12 năm 867 -
14 tháng 12 năm 872
lớn
HADRIANUS II
Giáo hoàng Ađrianô II
Roma Ông được ghi nhớ qua việc đội vương miện cho vua nước Anh, Alfred Cả và cố gắng giải hoà những tranh chấp sâu xa giữa các dân tộc Công giáo. Ông triệu tập một công đồng tại Constantinopolis, tại đây Thượng Phụ Photius bị lên án và vạ tuyệt thông.[106]
107
14 tháng 12 năm 872 -
16 tháng 12 năm 882
lớn
IOANNES VIII
Giáo hoàng Gioan VIII
Roma Ngay khi vừa lên ngôi, ông đã tỏ ra đầy nghị lực: khi quân Hồi Giáo đổ bộ Terracina, cách Roma hơn 40 Km, dù chỉ nhận được sự hỗ trợ của cư dân Roma, ông đã đích thân đến tận nơi, bắt 18 chiếc tàu và 600 tù binh. Ông là vị Giáo hoàng đầu tiên trong lịch sử đã có ý thức về Khối Kitô giáo.[107]
108
16 tháng 12 năm 882 -
15 tháng 5 năm 884
lớn
MARINUS I
Giáo hoàng Marinô I
Ông gây áp lực mạnh đối với hoàng đế Đông Phương Basil, để chống lại các phe lạc giáo. Ông dứt phép thông công Photius thêm một lần nữa.[108]
109
17 tháng 5 năm 884 -
Tháng 9 năm 885
lớn
HADRIANUS III
Thánh Ađrianô III
Roma Ngay sau khi lên ngôi, ông chống lại Photius. Đồng thời, ông cũng bác bỏ mọi yêu cầu và áp lực của hoàng đế Đông Phương ủng hộ Photius.[109]
110
Năm 885 -
14 tháng 9 năm 891
lớn
STEPHANUS V
Giáo hoàng Stêphanô V
Ông có được mối quan hệ tốt đẹp với Leo VI, hoàng đế Đông Phương, chính ông tuyên bố chống lại lạc giáo Photius. Quãng đời còn lại ông là bị truất phế, giam lỏng ở một tu viện và cuối cùng ông qua đời ở đó. Thánh Đế Rôma lụi tàn và trở thành ba nước: Ý, Pháp và Đức.[110]
111
19 tháng 9 năm 891 -
4 tháng 4 năm 896
lớn
FORMOSUS
Giáo hoàng Formôsô
Ostia (Ý) Bị Stephen VII đào mộ lôi xác lên xử tội trong Tòa án quái dị[111]
112
4 tháng 4 năm 896 -
19 tháng 4 năm 896
lớn
BONIFACIUS VI
Giáo hoàng Bônifaciô VI
Roma Ông được lên kế vị Formôsiô bởi một bọn phiến loạn những người Rô-ma. Ông chỉ cai trị có 15 ngày, sau đó ông chết vì bệnh gút hoặc bị hạ bệ bởi bọn phiến loạn Spôlét tùy theo các truyền thống. Việc bầu ông bị hủy bỏ trong Công đồng Rô-ma do Gioan IX triệu tập năm 898.

[112]

113
22 tháng 5 năm 896 -
Tháng 8 năm 897
lớn
STEPHANUS VI
Giáo hoàng Stêphanô VI
Ông cho quật xác vị tiền nhiệm gián tiếp là Đức Formosus và cho kéo lê một cách ô nhục và đê tiện nhất. Người ta gọi đây là "công đồng xác chết". Mọi đạo luật của vị tiền nhiệm đều bị ông tuyên bố là không có hiệu lực. Ông cũng buộc các giáo sĩ do Formosus phong chức phải rút lui. Các hành động này nọ đã đem lại cho ông sự căm ghét của dân chúng. Stephanus VI bị bắt và bị siết cổ nhưng thi hài của ông không bị báng bổ.[113]
114
Tháng 8 năm 897 -
Tháng 11 năm 897
lớn
ROMANUS
Giáo hoàng Rômanô
Romanus khôi phục việc tưởng nhớ Đức Formosus bị Giáo hoàng trước lăng nhục bằng công đồng xác chết. Có thể ông đã chết vì bị đầu độc. Triều Giáo hoàng của ông là ngắn ngủi nhất.Tuy nhiên, ngày qua đời của ông hiện này vẫn chưa rõ.[114]
115
Tháng 12 năm 897
lớn
THEODORUS II
Giáo hoàng Thêôđôrê II
Theodorus Theodorus II cũng phục hồi lại cho Đức Formosus và về sau còn phục hồi toàn bộ đạo luật trong triều Giáo hoàng của Đức Formosus. Theodorus qua đời đột ngột, có thể bị ám sát bằng cách đầu độc[115]
116
Tháng 1 năm 898 -
Tháng 1 năm 900
lớn
IOANNES IX
Giáo hoàng Gioan IX
Giáo hoàng đã triệu tập một công đồng để dứt phép thông công và lưu đày tất cả các hồng y đồng loã với Stephen VI và khôi phục tiếng tốt cho Giáo hoàng Formosus. Ông cũng phong cho Lambert Spoleto làm vua của Ý và vị vua này lãnh trách nhiệm bảo vệ Giáo hội và Đức Giáo hoàng[116]
117
1 tháng 2 năm 900 -
30 tháng 7 năm 903
lớn
BENEDICTUS IV
Giáo hoàng Biển Đức IV
Benedetto Roma

Lên ngôi trong thế kỉ 10 (từ năm 901 đến năm 1000)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
118
Tháng 7 năm 903 -
Tháng 9 năm 903
lớn
LEO V
Giáo hoàng Lêô V
Ý Ông hoàn toàn không phù hợp với chức vị cao do đây là thời kỳ suy đồi và thối nát về luân lý kinh khủng. Người giúp đỡ tinh thần cho ông, Hồng y Christopher đã truất phế ông bằng võ lực và giam ông trong một tu viện. Trong thời cuộc hỗn loạn, ông bị cầm tù và ám sát.
119
29 tháng 1 năm 904 -
14 tháng 4 năm 911
lớn
SERGIUS III
Giáo hoàng Sergiô III
Sergius Roma Ông là một trong những hồng y can dự vào việc báng bổ thi hài Đức Formosus. Ông cho xây lại đền thờ Thánh Joannes Lateranus bị hoả hoạn thiêu rụi. Sergius III chủ trương và bảo vệ quyền lợi Giáo hội, chống lại các lãnh chúa phong kiến. Lần đầu tiên, mũ ba tầng xuất hiện trên huy hiệu Giáo hoàng của ông. Trong thời gian đầu, giáo triều bị chi phối bởi hai mẹ con bà Theodora và Marozia, là vợ và con gái của nguyên lão nghị viện Theophilaco, người nắm toàn quyền hành chánh lẫn quân sự ở Roma từ năm 900-915.
120
Tháng 4 năm 911 -
Tháng 6 năm 913
lớn
ANASTASIUS III
Giáo hoàng Anastasiô III
Anastasius Roma Ông là người đạo đức. Trong suốt triều đại Giáo hoàng của ông đã diễn ra một cuộc trở lại Kitô giáo của người Norman. Ông không thực hiện được gì nhiều, do tình hình nội bộ bất ổn. Anastasius III chịu đau khổ vì áp lực của vua Berengarius I.
121
Tháng 8 năm 913 -
Tháng 2 năm 914
lớn
LANDO
Giáo hoàng Lanđô
Lando Ý Ông lên ngôi Giáo hoàng là do những âm mưu của một trong số phe nhóm đương thời. Ông chết cách bí ẩn đang khi vận động hoà giải nhiều phe nhóm nội bộ. Ông là vị Giáo hoàng cuối cùng mang một tên tục nguyên thủy cho đến Đức Gioan Phaolô I năm 1978.
122
Tháng 3 năm 914 -
Tháng 5 năm 928
lớn
IOANNES X
Giáo hoàng Gioan X
Johannes Ông đã tổ chức một liên minh với Italia và thân chinh chống lại quân Saracens và đánh thắng họ sông Garigliano. Ông bị giết trong tù vì từ chối ủng hộ các âm mưu xấu xa.
123
Tháng 5 năm 928 -
Tháng 12 năm 928
lớn
LEO VI
Giáo hoàng Lêô VI
Leo Trong suốt 7 tháng triều Giáo hoàng, ông dồn sức vào việc thiết lập hoà bình giữa các gia đình Rôma thuộc dòng dõi quý tộc đầy hiếu chiến. Lêô VI sống một đời khiêm nhường và lành thánh. Ông đã thành công trong cuộc chiến chống lại quân Saracens và quân Hungary tàn bạo. Ông đã chết vì bị ám sát.
124
Tháng 12 năm 928 -
Tháng 2 năm 931
lớn
STEPHANUS VII
Giáo hoàng Stêphanô VII
Stephanus de Gabrielli (?) Ông đắc cử Giáo hoàng nhờ sự ủng hộ của Marozia. Stephanus bảo trợ các đan viện Thánh Vincent ở Volturno và 2 đan viện ở Gaul. Ông mất vì bị ám sát.
125
Tháng 2 năm 931 -
Tháng 12 năm 935
lớn
IOANNES XI
Giáo hoàng Gioan XI
Johannes Con của Marozia và (được cho là) của Sergius III. Ông cố gắng ngăn chặn những âm mưu ghê gớm trong gia đình ngài. Mặc dù được bầu chọn với sự hỗ trợ của họ, ông đã phàn nàn về sự thiếu thận trọng kiềm chế của họ. Ông chết năm 29 tuổi sau nhiều nỗi khổ tâm.
126
3 tháng 1 năm 936 -
13 tháng 7 năm 939
lớn
LEO VII
Giáo hoàng Lêô VII
Ông đã giúp cho việc cải cách của dòng Cluny được dễ dàng và làm rất nhiều việc trong đó cho xây lại tu viện Thánh Phaolô fuori le mura. Leo VII viết thư cho các Giám mục Pháp và Đức, ra lệnh kết án các phù thuỷ và các nhà tướng số. ông đạt được hiệp định với Alberic II rằng Alberic nắm quyền dân sự còn Đức Giáo hoàng nắm quyền tôn giáo.
127
14 tháng 7 năm 939 -
Tháng 10 năm 942
lớn
STEPHANUS VIII
Giáo hoàng Stêphanô VIII
Stêphanô VIII giúp vua Louis IV của Oltremare chống lại cuộc dấy loạn của các chư hầu người Pháp. Ông cố gắng thuyết phục các lãnh chúa bên Đông cũng như bên Tây tôn trọng các nguyên tắc cứu độ của Tin Mừng.
128
30 tháng 10 năm 942 -
Tháng 5 năm 946
lớn
MARINUS II
Giáo hoàng Marinô II
Marino Marinô II nêu gương trong sạch, đời sống liêm chính trong một thời kỳ nhiễu nhương hỗn loạn. Ông bảo trợ các loại hình nghệ thuật, tổ chức lại các đoàn thể và khôi phục Roma như thủ đô luân lý của thế giới và đưa một số hướng dẫn làm quy tắc cho phẩm trật Giáo hội.
129
10 tháng 5 năm 946 -
Tháng 12 năm 955
lớn
AGAPETUS II
Giáo hoàng Agapêtô II
Ông làm hết sức để nâng cao những điều kiện luân lý cho hàng giáo sĩ và với sự giúp đỡ của vua nước Phổ, Otto I, bình định một phần nào nước Ý. Vua Đan Mạch Harold đã đón nhận Kitô giáo.
130
16 tháng 12 năm 955 -
14 tháng 5 năm 964
lớn
IOANNES XII
Giáo hoàng Gioan XII
Ottaviano Thời đại của ông được coi là lúc sự xấu xa của chế độ Giáo hoàng lên đến cực điểm. Toàn thể Roma chán nản và bất mãn về đời sống tư của vị Giáo hoàng bất xứng này. Ông tổ chức những bữa tiệc thay cho các buổi đọc kinh sáng sớm, chăm đi săn hơn là làm việc thiện và sống một cuộc sống bê tha. Ông dành phần lớn thời gian của mình cho việc săn bắn, tiệc tùng và những cuộc phiêu lưu tình ái. Tuy vậy, ông cũng đã đưa được một sự canh tân tôn giáo cũng như một sự mở rộng lãnh thổ mạnh mẽ đến kết quả cuối cùng. Ông kêu gọi hoàng đế nước Đức, Otto I Đại Đế bảo vệ ngôi Giáo hoàng. Nhưng Hoàng đế đặt điều kiện: trước hết ông phải được tấn phong hoàng đế với tất cả quyền lợi theo đó, kể cả lời thề trung thành.
131
Tháng 5 năm 964 -
Năm 965
lớn
BENEDICTUS V
Giáo hoàng Biển Đức V
Ông được hàng vua chúa tại La Mã đề cử lên ngôi Giáo hoàng, nhưng đại đế Otto I không đồng ý. Khi Vua Otto I xâm chiếm được Rôma đã cách chức ông xuống hàng phó tế và mang ông về Đức, đày sang Hamburg. Hoàng đế xem ông như là một ngụy Giáo hoàng.
132
Năm 965 -
1 tháng 3 năm 965
lớn
LEO VIII
Giáo hoàng Lêô VIII
Roma Ông được bầu làm Giáo hoàng do ý muốn của Otto I và chức vị Giáo hoàng của ông hoàn toàn vì quyền lợi của hoàng đế đó. Lêô VIII không được dân chúng Rôma mến mộ. Ông nghiêm cấm giáo dân bước vào cung thánh đang khi cử hành các lễ nghi long trọng.
133
1 tháng 10 năm 965 -
6 tháng 9 năm 972
lớn
IOANNES XIII
Giáo hoàng Gioan XIII
Giovanni Crescenzi Ông được bầu làm Giáo hoàng với sự đồng ý của Otto I. Tuy nhiên, ông không được công chúng Rôma chấp nhận. Mười tuần sau khi đăng quang ông bị lật đổ bởi một cuộc nổi dậy do tổng đốc thành phố và quân đội chỉ huy. Gioan VIII bị cầm tù rồi bị trục xuất. Ông tập hợp các đạo quân và kêu gọi hoàng đế can thiệp. Otto I đến Ý đưa ông trở về Rôma vào tháng 11 năm 966. Sự đàn áp những người nổi dậy lúc bấy giờ khá là tàn nhẫn. Gioan XIII tổ chức lại miền nam nước Italia, đưa Bênêventê và Capu lên thành phố chính thuộc Giáo hội. Ông cũng lập ra thói quen làm phép và đặt tên chuông.
134
19 tháng 1 năm 973 -
Tháng 6 năm 974
lớn
BENEDICTUS VI
Giáo hoàng Biển Đức VI
Sau khi hoàng đế Otto I băng hà, nhóm chống đối bao vây Lâu đài Thánh Thiên Thần, cầm tù và giết ông. Ông bị phế truất. Ông thuyết phục dân Hungary trở lại Kitô giáo.
135
Tháng 10 năm 974 -
10 tháng 7 năm 983
lớn
BENEDICTUS VII
Giáo hoàng Biển Đức VII
Là một người đầy đức hạnh, ông cố gắng đẩy lui sự đồi truỵ và ngu dốt đáng xấu hổ đã tràn ngập nước Ý và thế giới Kitô giáo. Ngài cổ vũ sự phát triển nông nghiệp.
136
Tháng 12 năm 983 -
20 tháng 8 năm 984
lớn
IOANNES XIV
Giáo hoàng Gioan XIV
Pietro Canepanova Pavia (Ý) Mặc dù là người nhân đức và có nhiều năng lực lớn lao, ông đã bị cầm tù trong Lâu đài Thánh Thiên Thần và bỏ chết đói[117].
137
Tháng 8 năm 985 -
Tháng 3 năm 996
lớn
IOANNES XV
Giáo hoàng Gioan XV
John Roma Ông chấm dứt những bất hoà đã nổi lên trong Giáo hội ở Reims và là vị giáo hoàng đầu tiên tham gia tiến trình tôn phong vị Thánh Ulderic[118].
138
3 tháng 5 năm 996 -
18 tháng 2 năm 999
lớn
GREGORIUS V
Giáo hoàng Grêgôriô V
Bruno của Carinthia Giáo hoàng người Đức đầu tiên. Ông bị buộc phải trốn đi Pavia, nên giáo hoàng giả Joannes XVI được vua Crescentius bổ nhiệm đã trị vì được gần một năm. Ông lập lễ giỗ cho người đã chết[119].
139
2 tháng 4 năm 999 -
12 tháng 5 năm 1003
lớn
SILVESTER II
Giáo hoàng Silvestrô II
Gerbert d'Aurillac Auvergne (Pháp) Ông là Giáo hoàng người Pháp đầu tiên. Là người có học thức cao, ông khởi xướng việc dùng chữ số Ả Rập. Triều đại của ông trải qua năm 1.000 - được coi như năm quyết định đối với ngày cánh chung[120].

Thiên niên kỷ thứ hai (1001 - 2000)[sửa | sửa mã nguồn]

Lên ngôi trong thế kỉ 11 (từ năm 1001 đến năm 1100)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tên
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
140
Tháng 6 năm 1003 -
Tháng 12 năm 1003
Giáo hoàng Gioan XVII
IOANNES XVII
Giáo hoàng Gioan XVII
Siccone Roma Ông đã lập gia đình trước khi được lựa chọn làm Giáo hoàng và có ba người con, tất cả họ đều trở thành linh mục. Ông được bầu chọn vào giai đoạn bất ổn khủng khiếp theo sau cái chết của hoàng đế nước Đức, Otto III. Ông được bầu làm Giáo hoàng do ý muốn của John Crescentius.
141
25 tháng 12 năm 1003 -
Tháng 7 năm 1009
Giáo hoàng Gioan XVIII
IOANNES XVIII
Giáo hoàng Gioan XVIII
Giovanni Fasano Roma Ông canh tân sự hợp nhất giữa hai Giáo hội La Tinh và Hy Lạp và hăng say làm việc để mở rộng đức tin Kitô giáo giữa dân tộc Barbarien và người theo tà giáo. Joannes XVIII lập toà giám mục ở Bramburg. Ông phong cho Henry II Bavaria làm vua nước Ý ở Pavia.
142
31 tháng 7 năm 1009 -
12 tháng 5 năm 1012
Giáo hoàng
SERGIUS IV
Giáo hoàng Sergiô IV
Pietro Bucca Porci Ông là vị Giáo hoàng đầu tiên đổi tên sau khi được bầu. Ông giữ quan hệ thân thiện với cả hai hoàng đế Đông Phương cũng như Tây Phương. Sergius IV cố gắng đến hoài công, để sửa chữa sự đồi bại về luân lý giữa các Giám mục và các viện phụ quyền thế.
143
18 tháng 5 năm 1012 -
9 tháng 4 năm 1024
Giáo hoàng Biển Đức VIII
BENEDICTUS VIII
Giáo hoàng Biển Đức VIII
Theophylactus II, Bá tước của Tusculum
144
Tháng 4 năm 1024 -
20 tháng 10 năm 1032
Giáo hoàng Gioan XIX
IOANNES XIX
Giáo hoàng Gioan XIX
Romanus, Bá tước của Tusculum
145
Năm 1032 -
Năm 1044
Giáo hoàng Biển Đức IX
BENEDICTUS IX
Giáo hoàng Biển Đức IX
Theophylactus III, Bá tước của Tusculum Lần thứ nhất; Từ ngôi để đổi lấy tiền bạc
146
Năm 1045
Giáo hoàng Sylvestrô III
SILVESTER III
Giáo hoàng Sylvestrô III
John, Giám mục của Sabina Sự lựa chọn bị nghi ngờ; Được xem như một Giáo hoàng Đối lập; Bị truất phế bởi Công đồng Sutri
147
Năm 1045 -
Năm 1046
Giáo hoàng Biển Đức IX
BENEDICTUS IX
Giáo hoàng Biển Đức IX
Theophylactus III, Bá tước của Tusculum Lần thứ hai; Bị truất phế bởi Công đồng Sutri
148
Tháng 4 năm 1045 -
20 tháng 12 năm 1046
Giáo hoàng Grêgôriô VI
GREGORIUS VI
Giáo hoàng Grêgôriô VI
Johannes Gratianus Bị truất phế bởi Công đồng Sutri
149
24 tháng 12 năm 1046 -
9 tháng 10 năm 1047
Giáo hoàng Clêmentê II
CLEMENS II
Giáo hoàng Clêmentê II
Suidger Saxony
150
Tháng 11 năm 1047 -
Năm 1048
Giáo hoàng Biển Đức IX
BENEDICTUS IX
Giáo hoàng Biển Đức IX
Theophylactus III, Bá tước của Tusculum Lần thứ ba; Bị truất phế lần cuối và vạ tuyệt thông.
151
17 tháng 7 năm 1048 -
9 tháng 8 năm 1048
Giáo hoàng Đamasô II
DAMASUS II
Giáo hoàng Đamasô II
Poppo Tirol (Áo)
152
12 tháng 2 năm 1049 -
19 tháng 4 năm 1054
Giáo hoàng Lêô IX
LEO IX
Thánh Lêô IX
Bruno, Bá tước của Dagsbourg Alsace (Pháp)
153
13 tháng 4 năm 1055 -
28 tháng 7 năm 1057
Giáo hoàng Victor II
VICTOR II
Giáo hoàng Victor II
Gebhard, Bá tước của Calw, Tollenstein và Hirschberg
154
2 tháng 8 năm 1057 -
29 tháng 3 năm 1058
Giáo hoàng Stêphanô IX
STEPHANUS IX
Giáo hoàng Stêphanô IX
Frederic de Lorraine
155
6 tháng 12 năm 1058 -
27 tháng 7 năm 1061
Giáo hoàng Nicôla II
NICOLAUS II
Giáo hoàng Nicôla II
Gérard de Bourgogne
156
30 tháng 9 năm 1061 -
21 tháng 4 năm 1073
Giáo hoàng Alexanđê II
ALEXANDER II
Giáo hoàng Alexanđê II
Anselmo da Baggio Milano (Ý)
157
22 tháng 4 năm 1073 -
25 tháng 5 năm 1085
Giáo hoàng Grêgôriô VII
GREGORIUS VII
Thánh Grêrôriô VII
Hildebrand Toscana (Ý)
158
24 tháng 5 năm 1086 -
16 tháng 9 năm 1087
Giáo hoàng Victor III
VICTOR III
Giáo hoàng Victor III
Desiderio Ý
159
12 tháng 3 năm 1088 -
29 tháng 7 năm 1099
Giáo hoàng Urbanô II
URBANUS II
Giáo hoàng Urbanô II
Odo de Lagery Pháp
160
13 tháng 8 năm 1099 -
21 tháng 1 năm 1118
Giáo hoàng Pascalê II
PASCHALIS II
Giáo hoàng Pascalê II
Raniero Romagna (Ý)

Lên ngôi trong thế kỉ 12 (từ năm 1101 đến năm 1200)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh
Đặc điểm nổi bật
161
24 tháng 1 năm 1118 -
28 tháng 1 năm 1119
lớn
GELASIUS II
Giáo hoàng Gêlasiô II
Giovanni Coniulo Lazio, Ý
Ngài bị quân phiến loạn Cencio Frangipane cầm tù khi chúng tấn công Đền thờ Lateranus. Khi được các thuỷ thủ xứ Genoa thả tự do, ngài trốn đi Gaeta, rồi từ đó giả làm khách hành hương trở về Roma.[121]
162
2 tháng 2 năm 1119 -
13 tháng 12 năm 1124
lớn
CALIXTUS II
Giáo hoàng Calixtô II
Guido, Bá tước của Bourgogne Bourgogne, Pháp
Một hiệp ước được ký kết tại Worms công nhận quyền của dân chúng trong việc đề cử các Giám mục. Ông triệu tập Công đồng chung IX và đã công bố cuộc Thập Tự chinh II.[122]
163
15 tháng 12 năm 1124 -
13 tháng 2 năm 1130

lớn
HONORIUS II
Giáo hoàng Hônôriô II
Lamberto Scannabecchi Imola, Ý Ngài canh tân những mối quan hệ thân hữu với gần hết các triều đình ở các nước châu Âu nhằm liên minh chống lại quân Saracens.[123]
164
14 tháng 2 năm 1130 -
24 tháng 9 năm 1143
lớn
INNOCENTIUS II
Giáo hoàng Innôcentê II
Gregorio Reschi Roma, Ý Ông triệu tập Công đồng Chung X.[124]
165
26 tháng 9 năm 1143 -
8 tháng 3 năm 1144
lớn
COELESTINUS II
Giáo hoàng Cêlestinô II
Guido Umbria, Ý Với sự giúp đỡ của Thánh Bernard, ngài đã hoà giải những bất đồng nội bộ Giáo hội. Ngài cố gắng chấm dứt chiến tranh giữa Scotland và Anh quốc nhưng ngài không thể tái lập hoà bình tại Ý.[125]
166
12 tháng 3 năm 1144 -
15 tháng 3 năm 1145
lớn
LUCIUS II
Giáo hoàng Luciô II
Gerardo Caccianemici dal Orso Bologna, Ý Ông cầm quyền trong tình hình rối ren do Arnold Brescia gây ra. Đang khi cố gắng ngăn chận một cuộc nổi loạn ghê gớm bùng nổ, ông chết vì bị hòn đá ném trúng đầu.[126]
167
15 tháng 2 năm 1145 -
8 tháng 7 năm 1153
lớn
EUGENIUS III
Giáo hoàng Êugêniô III
Bernardo Pignatelli Pisa, Ý Ông hoàn thành quy chế của trường đại học Công giáo và khởi công xây dựng dinh Giáo hoàng.[127]
168
8 tháng 7 năm 1153 -
3 tháng 12 năm 1154
lớn
ANASTASIUS IV
Giáo hoàng Anastasiô IV
Corrado Roma, Ý Nhờ tính cách ôn hoà, ông đã ổn định lãnh địa của Giáo hội.[128]
169
4 tháng 12 năm 1154 -
1 tháng 9 năm 1159
lớn
HADRIANUS IV
Giáo hoàng Ađrianô IV
Nicholas Breakspear Langley, Anh Ông là Giáo hoàng người Anh đầu tiên. Đồng thời, ông là người quyết bảo vệ quyền tối thượng của Giáo hoàng.[129]
170
7 tháng 9 năm 1159 -
30 tháng 8 năm 1181
lớn
ALEXANDER III
Giáo hoàng Alexanđê III
Rolando Bandinelli Toscana, Ý Ông ra vạ tuyệt thông vua Barbarossa vì tội ác của nhà vua. Ông triệu tập Cộng đồng Chung XI năm 1179[130]
171
1 tháng 9 năm 1181 -
25 tháng 11 năm 1185
lớn
LUCIUS III
Giáo hoàng Luciô III
Ubaldo Allucingoli Toscana, Ý Do những áp lực của phe phái, ông buộc phải đi ẩn trốn ở Verona, và những cuộc nổi loạn làm tan nát lãnh địa riêng của ông.[131]
172
25 tháng 11 năm 1185 -
19 tháng 10 năm 1187
lớn
URBANUS III
Giáo hoàng Urbanô III
Uberto Crivelli Milano, Ý Khi còn là hồng y, ông đã gầy dựng "liên minh Lombard". Ông cương quyết chống lại thói kiêu căng của vua Barbarossa và đã qua đời vì khi quân Saracens chiếm được Jerusalem.[132]
173
21 tháng 10 năm 1187 -
17 tháng 12 năm 1187
lớn
GREGORIUS VIII
Giáo hoàng Grêgôriô VIII
Alberto di Morra Benevento, Ý Ông đã đề nghị Thập tự chinh thứ ba. Ngoài ra, ông đã giúp đỡ các Kitô hữu ở Đất Thánh về mọi mặt.[133]
174
19 tháng 12 năm 1187 -
27 tháng 3 năm 1191
lớn
CLEMENS III
Giáo hoàng Clêmentê III
Paulino Scolari Roma, Ý Ông đã đem lại hoà bình cho Roma, sau thời gian 60 năm các Giáo hoàng đã bị buộc rời khỏi thành phố.[134]
175
30 tháng 3 năm 1191 -
8 tháng 1 năm 1198
lớn
COELESTINUS III
Giáo hoàng Cêlestinô III
Giacinto Bobone (Giacinto Orsin) Roma, Ý Ông vẫn duy trì luật không thể phân ly của hôn nhân. Ông phê chuẩn dòng Hiệp sĩ Teutonic, có bổn phận bảo vệ khách hành hương đến Đất Thánh.[135]
176
lớn
8 tháng 1 năm 1198 -
16 tháng 7 năm 1216
lớn
INNOCENTIUS III
Giáo hoàng Innôcentê III
Lothario dei Conti di Segni Lazio, Ý Ông là một Giáo hoàng có được tầm ảnh hưởng lớn. Ông tái thiết lập thế quyền trong các nước thuộc quyền Giáo hoàng; tích cực hỗ trợ cuộc Thập Tự chinh IV. Ông triệu tập Công đồng Chung XII.[136]

Lên ngôi trong thế kỉ 13 (từ năm 1201 đến năm 1300)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
177
lớn
18 tháng 7 năm 1216 -
18 tháng 3 năm 1227
lớn
HONORIUS III
Giáo hoàng Hônôriô III
Cencio Savelli Roma, Ý Ông đã có những dự định về việc phục hồi cuộc thập tự chinh thứ năm đã được vị tiền nhiệm của ông bắt đầu. Cùng với vua Hungary, Andrew II, tổ chức cuộc Thập Tự chinh V và rồi cũng kết thúc trong ê chề. Ông phê chuẩn bản luật của thánh Đôminicô trong sắc chỉ Religiosam vitam (Đời sống dòng tu). Ông cũng phê chuẩn các tu sĩ dòng Phanxicô. Và ông phê chuẩn Dòng các nữ tu Cát minh bằng sắc chỉ Ut vivendi norma cùng Hội dòng "Val dé Ecolier" (Vallis Scholarium).
178
lớn
19 tháng 3 năm 1227 -
22 tháng 8 năm 1241
lớn
GREGORIUS IX
Giáo hoàng Grêgôriô IX
Ugolino dei Conti di Segni Lazio, Ý Ông phạt vạ tuyệt thông vua Frederick II vì thái độ của ông ta đối với Thập Tự chinh. Ông tuyên phong Thánh Phanxicô, Antôn và Đa Minh. Ông thiết lập “Toà án thẩm tra”; phê chuẩn sách Kinh Nhật Tụng; và đã chuẩn bị Thập Tự chinh VI.
179
lớn
25 tháng 10 năm 1241 -
10 tháng 11 năm 1241
lớn
COELESTINUS IV
Giáo hoàng Cêlestinô IV
Goffredo Castiglioni Milano, Ý
180
lớn
25 tháng 6 năm 1243 -
7 tháng 12 năm 1254
lớn
INNOCENTIUS IV
Giáo hoàng Innôcentê IV
Sinibaldo Fieschi Genova, Ý Việc bầu chọn ông tổ chức tại Anagni, sau 2 năm trống ngôi giáo hoàng. Ông nổi tiếng thông thạo Giáo luật. Ông triệu tập Công đồng Chung XIII, thiết lập lễ Đức Mẹ Thăm Viếng và thực hiện cuộc Thập Tự chinh V cùng với vua Thánh Louis IX của Pháp.
181
lớn
12 tháng 12 năm 1254 -
25 tháng 5 năm 1261
lớn
ALEXANDER IV
Giáo hoàng Alexanđê IV
Rinaldo dei Conti di Segni Belluno, Ý Ông viết nhiều về khoa Luật, tuyên phong Thánh Clara và xác nhận những dấu thánh nơi Thánh Phanxicô. Ông ngăn cấm những vụ xét xử sơ sài về vấn đề lạc giáo và loại bỏ “hình phạt đánh đòn”.
182
lớn
29 tháng 8 năm 1261 -
2 tháng 10 năm 1264
lớn
URBANUS IV
Giáo hoàng Urbanô IV
Jacques Pantaléon Troyes, Pháp Ông ấn định lễ Mình Thánh Chúa Kitô mừng kính 60 ngày sau lễ Phục Sinh.
183
lớn
5 tháng 2 năm 1265 -
29 tháng 11 năm 1268
lớn
CLEMENS IV
Giáo hoàng Clêmentê IV
Gui Faucoi le Gros Saint Giles, Pháp
Trống tòa
lớn
30 tháng 11 năm 1268-
31 tháng 8 năm 1271
184
lớn
1 tháng 9 năm 1271 -
10 tháng 1 năm 1276
lớn
GREGORIUS X
Giáo hoàng Grêgôriô X
Tebaldo Visconti Piacenza, Ý Ông lên ngôi giáo hoàng sau gần 3 năm trống toà, vì sự bất đồng trong mật tuyển viện ở Viterbo. Ông triệu tập Công đồng Chung XIV.
185
lớn
21 tháng 1 năm 1276 -
22 tháng 6 năm 1276
lớn
INNOCENTIUS V
Giáo hoàng Innôcentê V
Pierre de Tarentaise Savoy, Pháp
186
lớn
11 tháng 7 năm 1276 -
18 tháng 8 năm 1276
lớn
HADRIANUS V
Giáo hoàng Ađrianô V
Ottobuono Fieschi Genova, Ý
187
lớn
8 tháng 9 năm 1276 -
20 tháng 5 năm 1277
lớn
IOANNES XXI
Giáo hoàng Gioan XXI
Pedro Hispano Lisbon, Bồ Đào Nha Giáo hoàng người Bồ Đào Nha đầu tiên; Theo tục lệ đếm số của thế kỷ 11, không có số XX, nên vị Giáo hoàng này bắt đầu với XXI
188
lớn
25 tháng 11 năm 1277 -
22 tháng 8 năm 1280
lớn
NICOLAUS III
Giáo hoàng Nicôla III
Giovanni Gaetano Orsini Roma, Ý
189
lớn
22 tháng 2 năm 1281 -
28 tháng 3 năm 1285
lớn
MARTINUS IV
Giáo hoàng Máctinô IV
Simon de Brion Touraine, Pháp
190
lớn
2 tháng 4 năm 1285 -
3 tháng 4 năm 1287
lớn
HONORIUS IV
Giáo hoàng Hônôriô IV
Giacomo Savelli Roma, Ý
191
lớn
22 tháng 2 năm 1288 -
4 tháng 4 năm 1292
lớn
NICOLAUS IV
Giáo hoàng Nicôla IV
Girolamo Masci Ascoli Piceno, Ý
Trống tòa
lớn
5 tháng 4 năm 1292 -
4 tháng 7 năm 1294
192
lớn
5 tháng 7 năm 1294 -
13 tháng 12 năm 1294
lớn
COELESTINUS V
Thánh Cêlestinô V
Pietro da Morrone Campobasso,Ý Từ ngôi
193
lớn
24 tháng 12 năm 1294 -
11 tháng 10 năm 1303
Giáo hoàng Bônifaciô VIII
BONIFACIUS VIII
Giáo hoàng Bônifaciô VIII
Benedetto Caetani Anagni, Ý

Lên ngôi trong thế kỉ 14 (từ năm 1301 đến năm 1400)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
194
lớn
22 tháng 10 năm 1303 -
7 tháng 7 năm 1304
lớn
BENEDICTUS XI
Giáo hoàng Biển Đức XI
Niccola Boccasini Treviso, Ý Triệu tập Công đồng Vienne từ 1311 đến 1312
195
lớn
5 tháng 6 năm 1305 -
20 tháng 4 năm 1314
lớn
CLEMENS V
Giáo hoàng Clêmentê V
Bertrand de Got Bordeaux, Pháp Thời kỳ Giáo hoàng ở Avignon bắt đầu
196
lớn
7 tháng 8 năm 1316 -
4 tháng 12 năm 1334
lớn
IOANNES XXII
Giáo hoàng Gioan XXII
Jacques d'Euse Cahors, Pháp
197
lớn
20 tháng 12 năm 1334 -
25 tháng 4 năm 1342
lớn
BENEDICTUS XII
Giáo hoàng Biển Đức XII
Jacques Fournier Saverdun, Pháp
198
lớn
7 tháng 5 năm 1342 -
6 tháng 12 năm 1352
lớn
CLEMENS VI
Giáo hoàng Clêmentê VI
Pierre Roger Limoges, Pháp
199
lớn
18 tháng 12 năm 1352 -
12 tháng 9 năm 1362
lớn
INNOCENTIUS VI
Giáo hoàng Innôcentê VI
Étienne Aubert Braisamont, Pháp
200
lớn
28 tháng 9 năm 1362 -
19 tháng 12 năm 1370
lớn
URBANUS V
Giáo hoàng Urbanô V
Guillaume de Grimoard Languedoc, Pháp
201
lớn
30 tháng 12 năm 1370 -
26 tháng 3 năm 1378
lớn
GREGORIUS XI
Giáo hoàng Grêgôriô XI
Pierre Roger de Beaufort Limoges, Pháp Thời kỳ Giáo hoàng ở Avignon chấm dứt
202
lớn
8 tháng 4 năm 1378 -
15 tháng 10 năm 1389
lớn
URBANUS VI
Giáo hoàng Urbanô VI
Bartolomeo Prignano Napoli, Ý Ly giáo Tây phương
203
lớn
2 tháng 11 năm 1389 -
1 tháng 10 năm 1404
lớn
BONIFACIUS IX
Giáo hoàng Bônifaciô IX
Pietro Tomacelli Napoli, Ý Ly giáo Tây phương

Lên ngôi trong thế kỉ 15 (từ năm 1401 đến năm 1500)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tên
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Ghi chú
204
lớn
17 tháng 10 năm 1404 -
6 tháng 11 năm 1406
lớn
INNOCENTIUS VII
Giáo hoàng Innôcentê VII
Cosimo Gentile Migliorati Sulmona, Ý Ly giáo Tây phương
205
lớn
30 tháng 11 năm 1406 -
4 tháng 7 năm 1415
lớn
GREGORIUS XII
Giáo hoàng Grêgôriô XII
Angelo Correr Venezia, Ý Ly giáo Tây phương; Thoái ngôi khi Công đồng Constance được triệu tập bởi Giáo hoàng đối lập Gioan XXIII
206
lớn
11 tháng 11 năm 1417 -
20 tháng 2 năm 1431
lớn
MARTINUS V
Giáo hoàng Máctinô V
Oddone Colonna Roma, Ý Triệu tập Công đồng Basel năm 1431
207
lớn
3 tháng 3 năm 1431 -
23 tháng 2 năm 1447
lớn
EUGENIUS IV
Giáo hoàng Êugêniô IV
Gabriele Condulmer Venezia, Ý
208
lớn
6 tháng 3 năm 1447 -
24 tháng 3 năm 1455
lớn
NICOLAUS V
Giáo hoàng Nicôla V
Tommaso Parentucelli Sarzana, Ý
209
lớn
8 tháng 4 năm 1455 -
6 tháng 8 năm 1458
lớn
CALLIXTUS III
Giáo hoàng Calixtô III
Alonso de Borgia Valencia, Tây Ban Nha Giáo hoàng người Tây Ban Nha đầu tiên
210
lớn
19 tháng 8 năm 1458 -
15 tháng 8 năm 1464
lớn
PIUS II
Giáo hoàng Piô II
Enea Silvio Piccolomini Siena, Ý
211
lớn
30 tháng 8 năm 1464 -
26 tháng 7 năm 1471
lớn
PAULUS II
Giáo hoàng Phaolô II
Pietro Barbo Venezia, Ý Cháu của Eugenius IV
212
lớn
9 tháng 8 năm 1471 -
12 tháng 8 năm 1484
lớn
XYSTUS IV
Giáo hoàng Xíttô IV
Francesco della Rovere Celle Ligure, Ý Thuộc dòng Franciscan; Thuê vẽ Sistine Chapel
213
lớn
29 tháng 8 năm 1484 -
25 tháng 7 năm 1492
lớn
INNOCENTIUS VIII
Giáo hoàng Innôcentê VIII
Giovanni Battista Cybo Genova, Ý
214
lớn
11 tháng 8 năm 1492 -
18 tháng 8 năm 1503
lớn
ALEXANDER VI
Giáo hoàng Alexanđê VI
Rodrigo de Lanzòl-Borgia Valencia, Tây Ban Nha Cháu của Callixtus III.Alexander VI là người có lắm tài, có năng lực lãnh đạo, nhưng lại là người lắm dục vọng. Dưới triều ông nhiều cuộc vui chơi được tổ chức ngay tại giáo triều.Trước khi trở thành Giáo hoàng, Alexander VI đã có mối tình với Vannozza dei Cattanei, và đã có 4 đứa con ngoài giá thú: Cesare, Giovanni, Lucrezia, và Gioffre. Một người tình sau nữa của Alexander là Giulia Farnese, em gái của Alessandro Farnese (sau này trở thành giáo hoàng Phaolô III). Alexander đã có hai người con với Giulia Farnese.Như vậy Alexander có tất cả ít nhất 7 con và có thể đến 10 con bất hợp pháp.

Đời tư của Giáo hoàng Alexander VI đã phản bội "lời nguyện độc thân" (vœu de célibat) cũng như "lời nguyện trinh bạch" (vœu de chasteté) của một linh mục. Ông sống như một nhà chính trị mưu mô, trao đổi, mua bán quyền lực, tìm cách làm giàu và gây quyền thế cho con cái, kể cả bằng cách gả con gái đến 3, 4 lần, nhưng mặt khác, ông cũng là người mang lại phần nào trật tự ở Rôma và thuở ông mới lên ngôi đã được sự ủng hộ của dân chúng và của giáo hội, và cha con ông cũng là những người che chở và nâng đỡ văn nghệ sĩ.[5]

Lên ngôi trong thế kỉ 16 (từ năm 1501 đến năm 1600)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tên
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
215
lớn
22 tháng 9 năm 1503 -
18 tháng 10 năm 1503
Pius III
PIUS III
Giáo hoàng Piô III
Francesco Todeschini Piccolomini Siena, Ý Cháu của Giáo hoàng Piô II
216
lớn
31 tháng 10 năm 1503 -
21 tháng 2 năm 1513
lớn
IULIUS II
Giáo hoàng Giuliô II
Giuliano della Rovere Albisola Superiore, Ý Cháu của Sixtus IV; Triệu tập Công đồng Lateran thứ năm năm 1512
217
lớn
9 tháng 3 năm 1513 -
1 tháng 12 năm 1521
lớn
LEO X
Giáo hoàng Lêô X
Giovanni di Lorenzo de' Medici Firenze, Ý
218
lớn
9 tháng 1 năm 1522 -
14 tháng 9 năm 1523
lớn
HADRIANUS VI
Giáo hoàng Ađrianô VI
Adrian Florensz Dedal Utrecht, Hà Lan Giáo hoàng người Hà Lan đầu tiên
219
lớn
26 tháng 11 năm 1523 -
25 tháng 9 năm 1534
lớn
CLEMENS VII
Giáo hoàng Clêmentê VII
Giulio di Giuliano di Piero de' Medici Firenze, Ý
220
lớn
13 tháng 10 năm 1534 -
10 tháng 11 năm 1549
lớn
PAULUS III
Giáo hoàng Phaolô III
Alessandro Farnese Rôma, Ý Khai mạc Công đồng Trent 1545
221
lớn
7 tháng 2 năm 1550 -
23 tháng 3 năm 1555
lớn
IULIUS III
Giáo hoàng Giuliô III
Giovanni Maria Ciocchi del Monte Roma, Ý
222
lớn
9 tháng 4 năm 1555 -
1 tháng 5 năm 1555
lớn
MARCELLUS II
Giáo hoàng Marcellô II
Marcello Cervini Montefano, Ý
223
lớn
23 tháng 5 năm 1555 -
18 tháng 8 năm 1559
lớn
PAULUS IV
Giáo hoàng Phaolô IV
Giovanni Pietro Carafa Naples, Ý
224
lớn
25 tháng 12 năm 1559 -
9 tháng 12 năm 1565
lớn
PIUS IV
Giáo hoàng Piô IV
Giovanni Angelo Medici Milano, Ý Mở lại Công đồng Trent năm 1562, bế mạc vào năm 1563
225
lớn
7 tháng 1 năm 1566 -
1 tháng 5 năm 1572
lớn
PIUS V
Thánh Piô V
Michele Ghislieri Piemonte, Ý
226
lớn
13 tháng 5 năm 1572 -
10 tháng 4 năm 1585
lớn
GREGORIUS XIII
Giáo hoàng Grêgôriô XIII
Ugo Boncompagni Bologna, Ý Cải cách lịch 1582
227
lớn
24 tháng 4 năm 1585 -
27 tháng 8 năm 1590
Sixtus V
XYSTUS V
Giáo hoàng Xíttô V
Felice Peretti Montalto, Ý
228
lớn
15 tháng 9 năm 1590 -
27 tháng 9 năm 1590
Urban VII
URBANUS VII
Giáo hoàng Urbanô VII
Giovanni Battista Castagna Roma, Ý
229
lớn
5 tháng 12 năm 1590 -
16 tháng 10 năm 1591
Gregory XIV
GREGORIUS XIV
Giáo hoàng Grêgôriô XIV
Niccolò Sfondrati Cremona, Ý
230
lớn
29 tháng 10 năm 1591 -
30 tháng 12 năm 1591
lớn
INNOCENTIUS IX
Giáo hoàng Innôcentê IX
Giovanni Antonio Facchinetti Bologna, Ý
231
lớn
30 tháng 1 năm 1592 -
3 tháng 3 năm 1605
lớn
CLEMENS VIII
Giáo hoàng Clêmentê VIII
Ippolito Aldobrandini Florence, Ý

Lên ngôi trong thế kỉ 17 (từ năm 1601 đến năm 1700)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
232
lớn
1 tháng 4 năm 1605 -
27 tháng 4 năm 1605
lớn
LEO XI
Giáo hoàng Lêô XI
Alessandro Ottaviano de' Medici Firenze, Ý Ông sống cuộc đời khổ hạnh, bình dân và quảng đại với mọi người. Ông bị bệnh và qua đời đang khi tiến hành xây dựng nhà thờ chính toà giáo phận (đền thờ Thánh Joannes Lateranus). Ông có biệt danh là Papa Lampo ("giáo hoàng tia chớp") vì thời gian tại chức Giáo hoàng quá ngắn[137].
233
lớn
16 tháng 5 năm 1605 -
28 tháng 1 năm 1621
lớn
PAULUS V
Giáo hoàng Phaolô V
Camillo Borghese Roma, Ý Ông vận động các quốc gia văn minh can thiệp và ngăn chặn việc bách hại Kitô hữu ở Nhật Bản và Trung Hoa, khuyến khích khoa Thiên văn học. Phaolô V còn nổi tiếng vì đã hoàn thành Vương cung thánh đường thánh Phêrô ở Rôma[138].
234
lớn
9 tháng 2 năm 1621 -
8 tháng 7 năm 1623
lớn
GREGORIUS XV
Giáo hoàng Grêgôriô XV
Alessandro Ludovisi Bologna,Ý Trong thời nhiệm ngắn ngủi, ông khích lệ dân Ireland và quan tâm đến việc phục hồi Công giáo ở Pháp. Ông chú trọng đặc biệt việc truyền giáo và thiết lập Thánh Bộ Truyền giáo để hỗ trợ việc đó[139].
235
lớn
6 tháng 8 năm 1623 -
29 tháng 7 năm 1644
lớn
URBANUS VIII
Giáo hoàng Urbanô VIII
Maffeo Barberini Firenze, Ý Ông thực hiện công việc soạn sách Nghi Thức Giáo hoàng, các Giờ Kinh Phụng Vụ. Trong triều đại ngài, Galileo Galileiđã bị kết án vì các quan điểm khoa học.[140]
236
lớn
15 tháng 9 năm 1644 -
7 tháng 1 năm 1655
lớn
INNOCENTIUS X
Giáo hoàng Innôcentê X
Giovanni Battista Pamphilj Roma,Ý Ông không chịu ký hiệp ước Westphalia, vì rất nhiều thành phố bị đặt dưới quyền của những người Kháng Cách. Ông đã lên án 5 mệnh đề rút ra từ quyển Augustinus của Jansenius. Ông truy tố Antonio và Francesco barberini, vì những tham ô tài chính của họ. Những người này trốn sang Pháp. Ông viết thư cho Nga Hoàng Alexei, yêu cầu giải phóng cho giới nông nô trong nước. Ông cho xúc tiến công việc nghiên cứu những lập luận về lễ nghi Trung Hoa.
237
lớn
7 tháng 4 năm 1655 -
22 tháng 5 năm 1667
lớn
ALEXANDER VII
Giáo hoàng Alexanđê VII
Fabio Chigi Toscana,Ý
Ông cố gắng bằng mọi cách dùng quyền lực, để ngăn chặn sự bành trướng của giáo thuyết Tin Lành, nhất là ở Ý và Anh. Ông quyết định trang hoàng quảng trường Đền thờ Thánh Phêrô bằng hàng cột Bernini và 2 đài phun nước. Giáo hoàng Alexander VII cũng là một người ham thích nghệ thuật, văn chương[141].
238
lớn
20 tháng 6 năm 1667 -
9 tháng 12 năm 1669
lớn
CLEMENS IX
Giáo hoàng Clêmentê IX
Giulio Rospigliosi Pistoia, Ý Ông làm trung gian hoà giải giữa các nước Pháp, Tây Ban Nha, Anh và Hà Lan, để đem lại hoà bình cho vùng Aquisgrana. Hàng Cột Bernini của Đền thờ Thánh Phêrô (284 cột) được trang trí với 140 tượng thánh[142].
239
lớn
29 tháng 4 năm 1670 -
22 tháng 7 năm 1676
lớn
CLEMENS X
Giáo hoàng Clêmentê X
Emilio Altieri Roma, Ý Ông can thiệp vào việc bầu chọn vua Ba Lan. Ông rất được yêu kính vì có lòng xác tín và vì chiến thắng quân Thổ Nhĩ Kỳ trong trận Chaezim[143].
240
lớn
21 tháng 9 năm 1676 -
12 tháng 8 năm 1689
lớn
INNOCENTIUS XI
Giáo hoàng Innôcentê XI
Benedetto Odescalchi Milan,Ý Ông huỷ bỏ quyền bất khả xâm phạm về mặt pháp lý và thói gia đình trị. Để chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ, ông cầu viện vua Ba Lan, John Sobiesky, đã từng đánh thắng quân Thổ ở Vienne. Ông lập lễ kính Đức Mẹ Maria[144].
241
lớn
6 tháng 10 năm 1689 -
1 tháng 2 năm 1691
lớn
ALEXANDER VIII
Giáo hoàng Alexanđê VIII
Pietro Vito Ottoboni Venice, Ý Ông giúp vua Ba Lan và dân Venice chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ[145].
242
lớn
12 tháng 7 năm 1691 -
27 tháng 9 năm 1700
lớn
INNOCENTIUS XII
Giáo hoàng Innôcentê XII
Antonio Pignatelli Spinazzola, Ý Ông quy định các linh mục phải mặc áo chùng hằng ngày và tĩnh tâm theo định kỳ.
243
lớn
23 tháng 11 năm 1700 -
19 tháng 3 năm 1721
lớn
CLEMENS XI
Giáo hoàng Clêmentê XI
Giovanni Francesco Albani Urbino, Ý Ông không chấp nhận Công giáo theo nghi lễ Trung Hoa. Ông làm cho lễ Maria vô nhiễm nguyên tội trở thành một lễ buộc và phong thánh cho Giáo hoàng Piô V và những vị khác. Ông còn làm phong phú thêm cho thư viện Vatican bằng cách quyết định đưa thêm 50 bức tượng vào số tượng thánh trên quảng trường Thánh Phêrô. Ông là người đầu tiên đưa ra luật cấm bất kỳ ai đem bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào ra khỏi Rôma[146].

Lên ngôi trong thế kỉ 18 (từ năm 1701 đến năm 1800)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tên
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
244
lớn
8 tháng 5 năm 1721 -
7 tháng 3 năm 1724
Innocient XIII
INNOCENTIUS XIII
Giáo hoàng Innôcentê XIII
Michelangelo de ’Conti Rôma, Ý Ông mạnh mẽ can thiệp, giúp đỡ vào Giáo hội Tây Ban Nha. Ông gửi 100.000 triều thiên cho các hiệp sĩ Malta, để khích lệ tinh thần, giúp họ chiến đấu chống quân Thổ Nhĩ Kỳ. Ông phản kháng việc hoàng đế Charles VI xâm chiếm các đất quận công Parme và Plaisance, lãnh thổ dưới quyền bá chủ của giáo hoàng. Ông đương đầu với người Pháp và từ chối rút lại sắc chỉ Unigenitus.[147]
245
lớn
29 tháng 5 năm 1724 -
21 tháng 2 năm 1730
Benedict XIII
BENEDICTUS XIII
Giáo hoàng Biển Đức XIII
Pierfrancesco Orsini Gravina di Pugli, Ý Năm 1725, ông khánh thành công trình Trinità dei Monti tuyệt vời ở Roma. Ông tuyên phong cho Thánh Louis Gonzaga và Thánh Stanislaus, bổn mạng nước Ba Lan.[148]
246
lớn
12 tháng 7 năm 1730 -
6 tháng 2 năm 1740
lớn
CLEMENS XII
Giáo hoàng Clêmentê XII
Lorenzo Corsini Firenze, Ý Ông tránh can thiệp vào các cuộc chiến khác nhau nổ ra trong thời kỳ đó. Ông bãi bỏ luật cấm chơi xổ số và phạt vạ tuyệt thông những ai có liên hệ với hội Tam Điểm.[149]
247
lớn
17 tháng 8 năm 1740 -
3 tháng 5 năm 1758
lớn
BENEDICTUS XIV
Giáo hoàng Biển Đức XIV
Prospero Lorenzo Lambertini Bologna, Ý Cùng với Thánh Leonard, ông truyền bá lòng sùng mộ "Đường Thánh Giá". Ông tiếp nhận công trình chân dung các giáo hoàng trong Đền thờ Thánh Phaolô ở Roma.[150]
248
lớn
6 tháng 7 năm 1758 -
2 tháng 2 năm 1769
lớn
CLEMENS XIII
Giáo hoàng Clêmentê XIII
Carlo della Torre Rezzonico Venezia, Ý Ông phải đối phó với những vấn đề do chủ nghĩa duy lý tạo ra.[151]
249
lớn
19 tháng 5 năm 1769 -
22 tháng 9 năm 1774
lớn
CLEMENS XVI
Giáo hoàng Clêmentê XIV
Giovanni Vincenzo Antonio Ganganelli Santarcangelo di Romagna, Ý Ông cố gắng canh tân những mối quan hệ bình thường với triều đình các nước Công giáo. Ông sáng lập Bảo tàng Clementine. Ông đã sửa đổi những quy tắc cho Kinh sĩ hội Sixtine.[152]
250
lớn
15 tháng 2 năm 1775 -
29 tháng 8 năm 1799
Pius VI
PIUS VI
Giáo hoàng Piô VI
Giovanni Angelo Braschi Cesena, Ý Hoàng đế Napoléon đánh chiếm Roma và bắt giữ giáo hoàng.[153]
251
lớn
14 tháng 3 năm 1800 -
20 tháng 8 năm 1823
lớn
PIUS VII
Giáo hoàng Piô VII
Barnaba Chiaramonti Cesena, Ý Để hoà hoãn với Napoléon, ông ký hiệp ước cải thiện vị trí của Giáo hội tại Pháp. Ông sáng tạo quốc kỳ Toà Thánh.[154]

Lên ngôi trong thế kỉ 19 (từ năm 1801 đến năm 1900)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
252
lớn
28 tháng 9 năm 1823 -
10 tháng 2 năm 1829
Leo XII
LEO XII
Giáo hoàng Lêô XII
Annibale Sermattei della Genga Spoleto, Ý Ông tái phê chuẩn sự có mặt của dòng Tên và xoá sổ tác phẩm của Galileo khỏi danh mục sách cấm. Ông cử hành Năm Thánh thứ 20 (1825) và tái thiết đền thờ Thánh Phaolô đã bị hoả hoạn.[155]
253
lớn
31 tháng 3 năm 1829 -
1 tháng 12 năm 1830
lớn
PIUS VIII
Giáo hoàng Piô VIII
Francesco Saverio Castiglioni Cingoli, Ý Ông khởi xướng dịch vụ bưu chính của giáo triều Vatican và tăng cường hoạt động truyền giáo trên thế giới.[156]
254
lớn
2 tháng 2 năm 1831 -
1 tháng 6 năm 1846
lớn
GREGORIUS XVI
Giáo hoàng Grêgôriô XVI
Bartolomeo Alberto Cappellari Belluno, Ý Ông dựa vào quyền lực của khối Liên Minh Áo, Phổ, Nga để điều hành giáo triều. Ông rút ngắn số tuổi pháp định từ 25 xuống 21. Ông thành lập các viện Bảo Tàng Ai Cập và Etruscan.[157]
255
lớn
16 tháng 6 năm 1846 -
7 tháng 2 năm 1878
lớn
PIUS IX
Giáo hoàng Piô IX
Giovanni Maria Mastai-Ferretti Ancona, Ý Ông cử hành Năm Thánh thứ 21 (1875), nhưng không mở các Cửa Thánh và công bố Ơn Bất Khả Ngộ của Giáo hoàng. Ông trị vì lâu nhất nếu không kể Thánh Peter.[158] Ông được phong chân phước ngày 3 tháng 9 năm 2000.
256
lớn
20 tháng 2 năm 1878 -
20 tháng 7 năm 1903
lớn
LEO XIII
Giáo hoàng Lêô XIII
Gioacchino Vincenzo Raffaele Luigi Pecci Lazio, Ý Ông là Giáo hoàng đầu tiên được lên phim. Ông cử hành Năm Thánh thứ 22 (1900) và đền thờ Thánh Phêrô lần đầu tiên được chiếu sáng bằng các đèn điện..[159]

Lên ngôi trong thế kỉ 20 (từ năm 1901 đến năm 2000)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh Đặc điểm nổi bật
257
lớn
4 tháng 8 năm 1903
20 tháng 8 năm 1914
Thánh Pius X
PIUS X
Thánh Piô X
Giuseppe Melchiorre Sarto Veneto, Ý Ông canh tân bộ Giáo luật, chăm lo những vấn đề xã hội và cố gắng ngăn cản cuộc Thế chiến I. Ông được tuyên phong hiển thánh ngày 29 tháng 5 năm 1954.[160]
258
lớn
3 tháng 9 năm 1914
22 tháng 1 năm 1922
Benedict XV
BENEDICTUS XV
Giáo hoàng Biển Đức XV
Giacomo Della Chiesa Genova, Ý Ông cố gắng xoa dịu những đau khổ do cuộc Thế chiến I gây nên và làm trung gian hoà giải các phe phái lâm chiến. Ông công bố bộ Giáo Luật mới (1917).
259
lớn
6 tháng 2 năm 1922
10 tháng 2 năm 1939
lớn
PIUS XI
Giáo hoàng Piô XI
Achille Ambrogio Damiano Ratti Milano, Ý Ông lưu tâm đến Đông Phương. Ông tố cáo những việc làm quá đáng của các chủ nghĩa đương thời. Ông ký Hiệp ước Lateran với Ý để Vatican thành một quốc gia tự trị.
260
lớn
2 tháng 3 năm 1939
9 tháng 10 năm 1958
lớn
PIUS XII
Giáo hoàng Piô XII
Eugenio Maria Giuseppe Giovanni Pacelli Roma, Ý Ông tích cực can thiệp để chấm dứt Thế chiến II. Vatican trở thành nơi trú ẩn cho nhiều người bị bách hại về chính trị hoặc chủng tộc. Ông viết nhiều thông điệp về Giáo hội, nghiên cứu Thánh Kinh, thần học, phụng vụ và công bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (1950).
261
lớn
28 tháng 10 năm 1958
3 tháng 6 năm 1963
lớn
IOANNES XXIII
Thánh giáo hoàng Gioan XXIII
Angelo Giuseppe Roncalli Bergamo, Ý Ông triệu tập Công đồng Chung XXI, quen gọi là Công đồng Vatican II (khai mạc 11 tháng 10 năm 1962). Ông được tuyên phong chân phước ngày 3 tháng 9 năm 2000. Ông được tuyên thánh vào ngày 27 tháng 4 năm 2014 bởi Giáo hoàng Phanxicô.
262
lớn
21 tháng 6 năm 1963
6 tháng 8 năm 1978
lớn
PAULUS VI
Giáo hoàng Phaolô VI
Giovanni Battista Enrico Antonio Maria Montini Concesio, Ý Ông thực hiện các cuộc công du đến các nước để loan báo Tin Mừng Đức Kitô. Ông đã thiết lập tổ chức Thượng Hội đồng Giám mục để cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc điều hành Giáo hội toàn cầu. Danh hiệu "Tôi tớ của Chúa" được ông dùng lần đầu tiên
263
lớn
26 tháng 8 năm 1978
28 tháng 9 năm 1978
lớn
IOANNES PAULUS I
Giáo hoàng Gioan Phaolô I
Albino Luciani Veneto, Ý Ông chọn tên dựa vào tên của hai Giáo hoàng tiền nhiệm. Ông được coi là một vị Giáo hoàng vui tươi.
264
lớn
16 tháng 10 năm 1978
2 tháng 4 năm 2005
lớn
IOANNES PAULUS II
Thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II
Karol Józef Wojtyła Wadowice, Ba Lan Giáo hoàng người Ba Lan đầu tiên; Phong nhiều thánh nhất trong các Giáo hoàng, là người bị ám sát hụt nhiều lần. Năm 1994, Đức Joannes Paulus II được Tạp chí Times bầu chọn là "Nhân vật trong năm". Ông được tuyên thánh vào ngày 27 tháng 4 năm 2014 bởi Giáo hoàng Phanxicô

Thiên niên kỷ thứ ba (2001 - 3000)[sửa | sửa mã nguồn]

Lên ngôi trong thế kỉ 21 (từ năm 2001 đến nay)[sửa | sửa mã nguồn]

STT Thời gian Ảnh Tông hiệu
Latinh  • Việt
Tên thật Nơi sinh
Ngày sinh
Đặc điểm nổi bật
265
lớn
19 tháng 4 năm 2005 -
28 tháng 2 năm 2013
Biển Đức XVI
BENEDICTUS XVI
Giáo hoàng Biển Đức XVI
Joseph Alois Ratzinger Bavaria, Đức Là giáo hoàng lớn tuổi nhất sau Clemens XII. Được coi là một người bảo thủ, nhưng Biển Đức XVI đã có một số bước đi được đánh giá là mềm dẻo và linh hoạt hơn Giáo hoàng tiền nhiệm, ông là vị giáo hoàng đầu tiên từ chức trong vòng 600 năm trước đó. Ông trở thành Giáo hoàng đầu tiên bày tỏ "sự hổ thẹn" vì những vụ xâm hại và đã gặp các nạn nhân. Ông cũng là Giáo hoàng đầu tiên mở tài khoản Twitter [161]
266
lớn
13 tháng 3 năm 2013 đến nay
lớn
FRANCISCUS, S.J.
Giáo hoàng Phanxicô
Jorge Mario Bergoglio Buenos Aires, Argentina Người Mỹ La Tinh, Nam Mỹ, Argentina và tu sĩ Dòng Tên đầu tiên làm Giáo hoàng. Tạp chí Forbes xếp hạng Giáo hoàng Phanxicô ở vị trí thứ 4 trong số những nhân vật quyền lực nhất thế giới của năm 2013 và Tạp chí Time bình chọn ông là nhân vật của năm 2013. Phanxicô được đánh giá là người khiêm nhường, quan tâm đến người nghèo, và sẵn sàng đối thoại với các nhóm cộng đồng có tư tưởng, xuất thân và niềm tin khác nhau.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Sửa chữa danh sách chính thức Giáo hoàng”. Zenit. Ngày 5 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2013. 
  2. ^ “The Pope” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2013. 
  3. ^ Từ điển Công giáo Phổ Thông, Đặng Xuân Thành. - Dịch giả: Nhóm Chánh Hưng. Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Phương Đông tháng 8, 2008.
  4. ^ “St. Peter, Prince of the Apostles” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  5. ^ “Pope St. Linus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  6. ^ “Pope St. Anacletus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  7. ^ a ă “Pope St. Evaristus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  8. ^ “Pope St. Alexander I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  9. ^ “Pope St. Sixtus I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  10. ^ “Pope St. Telesphorus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  11. ^ “Pope St. Hyginus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  12. ^ “Pope St. Pius I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  13. ^ “Pope St. Anicetus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  14. ^ “Caius and Soter, Saints and Popes” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  15. ^ “Pope St. Eleutherius (Eleutheros)” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  16. ^ “Pope St. Victor I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  17. ^ “Pope St. Zephyrinus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  18. ^ “Pope Callistus I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  19. ^ “Pope Urban I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  20. ^ “Pope St. Pontian” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  21. ^ “Pope St. Anterus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  22. ^ “Pope St. Fabian” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  23. ^ “Pope Cornelius” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  24. ^ “Pope St. Lucius I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  25. ^ “Pope St. Stephen I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  26. ^ “Pope St. Sixtus II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  27. ^ “Pope St. Dionysius” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  28. ^ “Pope St. Felix I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  29. ^ “Pope St. Eutychianus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  30. ^ “Caius and Soter, Saints and Popes” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  31. ^ “Pope Saint Marcellinus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  32. ^ “Pope St. Marcellus I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  33. ^ “Pope St. Eusebius” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  34. ^ “Pope St. Miltiades” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  35. ^ “Pope St. Sylvester I (314-335)” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  36. ^ “Pope St. Mark” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  37. ^ “Pope St. Julius I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  38. ^ “Pope Liberius” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  39. ^ “Pope St. Damasus I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  40. ^ “Pope St. Siricius” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  41. ^ “Pope St. Anastasius I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  42. ^ “Pope Innocent I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  43. ^ “Pope St. Zosimus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  44. ^ “Pope St. Boniface I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  45. ^ “Pope St. Celestine I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  46. ^ “Pope St. Sixtus III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  47. ^ “Pope St. Leo I (the Great)” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  48. ^ “Pope Saint Hilarus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  49. ^ “Pope St. Simplicius” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  50. ^ “Pope St. Felix III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  51. ^ “Pope St. Gelasius I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  52. ^ “Pope Anastasius II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  53. ^ “Pope St. Symmachus (498-514)” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  54. ^ “Pope St. Hormisdas” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  55. ^ “Pope St. John I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  56. ^ “Pope St. Felix IV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  57. ^ “Pope Boniface II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  58. ^ “Pope John II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  59. ^ “Pope St. Agapetus I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  60. ^ “Silverius” (bằng tiếng Đức). Ökumenisches Heiligenlexikon. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)
  61. ^ “Pope Vigilius” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  62. ^ “Pope Pelagius I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  63. ^ “Pope John III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  64. ^ “Pope Benedict I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  65. ^ “Pelagius II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  66. ^ “Pope St. Gregory I ("the Great")” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  67. ^ “Pope Sabinianus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  68. ^ “Pope Boniface III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  69. ^ “Pope St. Boniface IV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  70. ^ “Pope St. Deusdedit” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  71. ^ “Pope Boniface V” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  72. ^ “Pope Honorius I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  73. ^ “Pope Severinus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  74. ^ “Pope John IV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  75. ^ “Pope Theodore I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  76. ^ “Pope St. Martin I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  77. ^ “Pope St. Eugene I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  78. ^ “Pope St. Vitalian” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  79. ^ “Pope St. Adeodatus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  80. ^ “Pope Donus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  81. ^ “Pope St. Agatho” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  82. ^ “Pope St. Leo II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  83. ^ “Pope St. Benedict II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  84. ^ “Pope John V” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  85. ^ “Pope Conon” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  86. ^ “Pope St. Sergius I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  87. ^ “Pope John VI” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  88. ^ “Pope John VII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  89. ^ “Pope Sisinnius” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  90. ^ “Pope Constantine” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  91. ^ “Pope St. Gregory II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  92. ^ “Pope St. Gregory III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  93. ^ “Pope St. Zachary” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  94. ^ “Pope Stephen II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  95. ^ a ă “Pope Stephen (III) IV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  96. ^ “Pope Adrian I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  97. ^ “Pope St. Leo III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  98. ^ “Pope Paschal I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  99. ^ “Pope Eugene II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  100. ^ “Pope Valentine” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  101. ^ “Pope Gregory IV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  102. ^ “Pope Sergius II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  103. ^ “Pope St. Leo IV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  104. ^ “Pope Benedict III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  105. ^ “Pope St. Nicholas I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  106. ^ “Pope Adrian II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  107. ^ “Pope John VIII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  108. ^ “Pope Marinus I” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  109. ^ “Pope St. Adrian III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  110. ^ “Pope Stephen (V) VI” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  111. ^ “Pope Formosus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  112. ^ “Pope Boniface VI” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  113. ^ “Pope Stephen (VI) VII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  114. ^ “Pope Romanus” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  115. ^ “Pope Theodore II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  116. ^ “Pope John IX” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  117. ^ “Pope John XIV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. [url=http://www.newadvent.org/cathen/08427b.htm Bản gốc] lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  118. ^ “Pope John XV (XVI)” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. [url=http://www.newadvent.org/cathen/08427c.htm Bản gốc] lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  119. ^ “Pope Gregory V” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  120. ^ “Pope Sylvester II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  121. ^ “Pope Gelasius II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  122. ^ “Pope Callistus II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  123. ^ “Pope Honorius II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  124. ^ “Pope Innocent II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  125. ^ “Pope Celestine II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  126. ^ “Pope Lucius II” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  127. ^ “Pope Blessed Eugene III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  128. ^ “Pope Anastasius IV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  129. ^ “Pope Adrian IV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  130. ^ “Pope Alexander III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  131. ^ “Pope Lucius III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  132. ^ “Pope Urban III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  133. ^ “Pope Gregory VIII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  134. ^ “Pope Clement III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  135. ^ “Pope Celestine III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  136. ^ “Pope Innocent III” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  137. ^ “Pope Leo XI” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)
  138. ^ “Pope Paul V” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)
  139. ^ “Pope Gregory XV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)
  140. ^ “Pope Urban VIII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)
  141. ^ “Pope Alexander VII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)
  142. ^ “Pope Clement IX” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)
  143. ^ “Pope Clement X” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)
  144. ^ “Pope Innocent XI” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)
  145. ^ “Pope Alexander VIII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)
  146. ^ “Pope Innocent XII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)
  147. ^ “Pope Innocent XIII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  148. ^ “Pope Benedict XIII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  149. ^ “Pope Clement XII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  150. ^ “Pope Benedict XIV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  151. ^ “Pope Clement XIII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  152. ^ “Pope Clement XIV” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  153. ^ “Pope Pius VI” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  154. ^ “Pope Pius VII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  155. ^ “Pope Leo XII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  156. ^ “Pope Pius VIII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  157. ^ “Pope Gregory XVI” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  158. ^ “Pope Pius IX” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  159. ^ “Pope Leo XIII” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  160. ^ “Pope Pius X” (bằng tiếng Anh). Catholic Encyclopedia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  161. ^ “Папа римский уйдет при жизни” (bằng tiếng Nga). Газета «Коммерсантъ». 12 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (gợi ý |language=) (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]