Tết Hàn thực

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hàn thực)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Tết Hàn Thực là một ngày tết vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch. "Hàn Thực" nghĩa là "thức ăn lạnh". Ngày tết truyền thống này xuất hiện tại một số tỉnh của Trung Quốc, miền bắc Việt Nam và một số cộng đồng người gốc Hoa trên thế giới.

Hàng năm vào ngày này, nhiều gia đình cho xay bột, đồ đỗ xanh, làm bánh trôi, bánh chay (ở Trung Quốc nấu chè trôi nước), nấu xôi chè lễ Phật và cúng gia tiên, có lẽ đó cũng là một cách tưởng niệm người thân trong những ngày tháng cuối xuân.

Điển tích Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam, ngày 3 tháng 3 âm lịch ăn tết Hàn thực "phỏng theo người phương Bắc, kỷ niệm ngày Giới Tử Thôi chết cháy".[1] Hai chữ "Hàn Thực" gắn với một điển tíchTrung Quốc, được biết tới nhiều qua tiểu thuyết Đông Chu liệt quốc.

Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công nước Tấn, gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, nay trú nước Tề, mai trú nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo vua giúp đỡ mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cám kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công trong mười chín năm trời, cùng nhau trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi báu trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công trong khi tòng vong, nhưng lại quên mất công lao của Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì, cũng là cái nghĩa vụ của mình, chớ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm. Giới Tử Thôi không chịu rời Điền Sơn ra lĩnh thưởng, Tấn Văn Công hạ lệnh đốt rừng, ý muốn thúc ép Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông nhất định không chịu tuân mệnh, rốt cục cả hai mẹ con ông đều chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ và hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm (khoảng từ mồng 3 tháng 3 đến mồng 5 tháng 3 Âm lịch hàng năm).

Tục lệ ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tục ăn bánh trôi, bánh chay[sửa | sửa mã nguồn]

Bánh trôi

Ở Việt Nam hiện nay, người ta chỉ làm bánh trôi hay bánh chay để thế cho đồ lạnh, nhưng chỉ cúng gia tiên, và có ít liên hệ đến Giới Tử Thôi và những kiêng kỵ khác.[2] Vào ngày này, người Việt thường "làm bánh trôi nước, bày cỗ bàn, cúng gia tiên"[1], cho nên bánh trôi còn được gọi là bánh Hàn thực[3].

Theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức, tục ăn bánh trôi vào ngày Hàn thực ở Việt Nam nhiều khả năng được du nhập vào thời Lê, thịnh hành vào giai đoạn Lê Trung Hưng - Nguyễn. Năm 1773, Lê Quý Đôn cho biết: "Tục nước ta trọng nhất bánh trôi nước, mỗi năm cứ ngày mồng 3 tháng 3 thì làm bánh ấy. Người phương Bắc cũng có, gọi là Thủy đoàn".[4] Theo giải thích của Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa (viết vào khoảng thế kỷ 16 thời Lê) giải thích: "Trôi nước có hiệu Thủy đoàn, trong đường ngoài bột nổi hòn lênh đênh".

Tục ăn bánh cuốn[sửa | sửa mã nguồn]

Bánh cuốn ngày nay

Theo ghi chép của Lê Tắc, người thời Trần "tiết Hàn Thực, đem bánh cuốn tặng nhau" [5]. Qua bài thơ "Tặng bánh xuân cho ngài thiên sứ Trương Hiển Khanh", làm năm 1291, Trần Nhân Tông viết: "Hôm nay đúng ngày mồng 3 tháng 3, trên chiếc mâm chạm hình mây đỏ bày bánh Xuân thái, đây là phong tục cũ của An Nam xưa nay." [5] Theo Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, bánh Xuân thái cũng chính là tên gọi khác của bánh cuốn. Sách này đồng thời cho biết: "Quyển bính (bánh cuốn) nhiều nhân càng ngon, hiệu là bánh cuốn lăn tròn khéo thay" .

Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức cho biết: Như vậy, vào thời Trần, thậm chí có thể truy lên thời Lý, nhằm tiết Hàn thực, người Việt ăn bánh cuốn và có tục đem bánh cuốn tặng nhau, chưa có tục ăn bánh trôi như thời Lê Nguyễn về sau. Bánh cuốn còn được gọi là bánh Xuân thái (thái: rau), trong có nhân (có thể gồm cả rau lẫn thịt), được cuốn tròn lại, hình dạng khá gần với bánh cuốn ngày nay.

Tranh cãi: Tết hàn thực là của người Việt hay người Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nghiên cứu văn hóa, Tiến sĩ Nguyễn Ánh Hồng, Trưởng khoa Văn hóa Phát triển (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) cho biết ngày tết này ở Việt Nam thực ra bắt nguồn từ một phong tục của người Trung Quốc nhưng đã được Việt hóa nên được lưu truyền cho đến ngày nay: "Tên gọi của Tết Hàn thực nghe có vẻ bắt chước từ Trung Quốc nhưng không phải, mà khi vào Việt Nam, nó đã hợp nhất với tết bánh trôi, bánh chay, tết tháng 3 của người Việt. Bản thân ngày tết này cũng mang ý nghĩa và thể hiện rõ nét về đặc trưng văn hóa, lối sống, những khát vọng mơ ước rất riêng của người Việt. Chính điều này đã tạo nên sức sống lâu bền của ngày tết bánh trôi, bánh chay. Khác với Tết Hàn thực ở Trung Quốc - thường không đốt lửa trong 3 ngày và chỉ ăn đồ lạnh đã nấu sẵn trước đó, ở Việt Nam, người dân không kiêng lửa, mọi việc nấu nướng vẫn diễn ra bình thường" [6] Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức (tác giả cuốn "Ngàn năm áo mũ" và nhiều bài nghiên cứu về văn hóa dân tộc) cũng cho biết trong "An Nam phong tục sách" có ghi tục này "phỏng theo người phương Bắc, kỷ niệm ngày Giới Tử Thôi chết cháy"[1].

Tuy nhiên, các bài phân tích của Trung tâm nghiên cứu lý học Đông Phương luôn khẳng định, tết Hàn Thực không phải của người Trung Quốc, mà nó hoàn toàn liên quan tới nền văn minh của người Việt.[7][8] Tuy nhiên, phân tích của Trung tâm này có nhiều điểm đáng ngờ. Ví dụ: coi tết Hàn thực chính là tết Đoan ngọ diễn ra vào mồng 5/5 âm lịch. Báo Thanh Niên dẫn theo các phân tích của trung tâm này, trên Hà Đồ Lạc Thư thì số 3 thuộc Dương Mộc. Tháng 3 là tháng Thìn, thuộc ngũ hành Thổ và là tháng thứ năm (theo lịch Kiến Dần). Ngày 3/3 là đánh dấu ngày kết thúc của Mộc Khí. Còn Hàn Thực tức là ăn món lạnh mong cho mùa Hạ bớt nóng và Tổ tiên chúng ta sáng tạo ra món bánh trôi bánh chay để thắp hương và dâng lên hương linh gia tiên là hoàn toàn dựa trên nguyên lý âm dương ngũ hành chứ không hề liên quan tới Phật giáo hay Đạo giáo.[8] Tuy nhiên, trung tâm cũng chưa dẫn được những sử liệu khoa học xác đáng và có nhầm lẫn về mặt lịch sử[9].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â "Tiểu học Bản quốc phong tục sách" (còn gọi "An Nam phong tục sách")
  2. ^ Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2004
  3. ^ Bài thơ "Bánh trôi nước" của Hồ Xuân Hương, trong "Tạp thảo tập" và "Xuân Hương thi sao" được chép với tên "Vịnh Hàn thực bính" (Vịnh bánh Hàn thực)
  4. ^ Vân đài loại ngữ
  5. ^ a ă An Nam chí lược
  6. ^ Vương Trần (7 tháng 4 năm 2019). “Chuyên gia lý giải về Tết Hàn thực (3.3 âm lịch) tại Việt Nam”. Báo Lao Động. 
  7. ^ Nguyễn Vũ Tuấn Anh (8 tháng 6 năm 2008). “GIẢI MÃ NGÀY MÙNG 5 THÁNG 5 TRONG DI SẢN VĂN HIẾN VIỆT.”. 
  8. ^ a ă Vũ Phượng (26 tháng 3 năm 2020). “Tết Hàn Thực, tiết Thanh Minh: Nguồn gốc và ý nghĩa việc cúng bánh trôi, bánh chay”. Báo Thanh Niên. 
  9. ^ Nhầm lẫn về mặt lịch sử: Trung tâm nghiên cứu lý học Phương Đông phân tích tại sao ngày 10/3 được tổ tiên Việt chọn làm lễ giỗ tổ Hùng Vương để "chứng minh rằng: Nguồn gốc của văn minh Đông phương thuộc về nền văn minh Lạc Việt một thời huy hoàng kỳ vĩ từ hàng ngàn năm trước". Trên thực tế, ngày này chỉ mới được chọn từ năm 1917 triều vua Khải Định, khi Bộ Lễ chính thức gửi công văn lấy ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch thì cử hành "quốc tế" hàng năm.
  • Sổ tay văn hoá Việt Nam, Đặng Đức Siêu, Nhà Xuất bản Lao động, 2006