Sủi dìn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Sủi dìn (汤圆| Bính âm : Tangyuan, Việt bính: Tongjyun) (hay còn gọi là Chè thang viên)- là món bánh trôi có nguồn gốc từ Trung Quốc. Sủi dìn làm bằng bột gạo nếp, nhân đậu xanh, vừng. Bên ngoài lăn vừng đen & nấu trong nước gừng nóng, rắc thêm một vài sợi dừa nạo.

Món ăn này hợp với khí hậu lạnh của mùa đông, thường được bán kèm với chè vừng đen chí mà phù.

Món ăn này được du nhập vào Việt Nam qua các tỉnh phía bắc theo chân người Hoa. Được thay đổi để phù hợp với ẩm thực của từng vùng miền.

Thành phần nguyên liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Những nguyên liệu chính là bột nếp, vừng đen, dừa nạo, gừng tươi, đườnghương liệu đặc trưng.

Cách thức chế biến[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn qua, sủi dìn gần giống bánh chay truyền thống của Việt Nam, bởi cách làm và một số nguyên liệu giống nhau, nhưng món này có những nét riêng với nguồn gốc du nhập từ Trung Quốc. Sủi dìn làm từ bột nếp, nhưng nhân bằng vừng đen rang chín cho dậy mùi thơm, sau đó giã nhuyễn cùng dừa nạo sao cho vừa thơm, vừa béo ngậy và khi nặn cùng với vỏ bột nếp có độ giòn và không dễ bị nát. Nước làm sủi dìn có vị đặc trưng riêng, bởi dậy mùi cay nồng của gừng tươi giã nhỏ nấu với nước đường mía tạo ra màu vàng cánh gián. Sủi dìn dễ làm, có thể tự làm tại gia đình. Tuy nhiên, khâu chuẩn bị nguyên liệu khá kỳ công bởi bột nếp phải xay nước mới mềm, dẻo. Khi làm cần khéo léo để nhân không bị bật ra ngoài vỏ, khi luộc chú ý để đủ độ chín là vớt ra bát, nếu để chín quá dễ bị vỡ nhân.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Tại các tỉnh miền núi đông bắc Việt Nam, viên sủi dìn thường không có nhân đồng thời được nhuộm màu bằng gấc và nghệ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]