Hậu Tấn Xuất Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tấn Xuất Đế
晉出帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế Hậu Tấn
Trị vì 942946
Tiền nhiệm Hậu Tấn Cao Tổ
Kế nhiệm Triều đại sụp đổ
Thông tin chung
Hoàng hậu Trương hoàng hậu[1]
Phùng hoàng hậu[1]
Hậu duệ
Tên thật Thạch Trọng Quý (石重贵)
Niên hiệu Thiên Phúc: 6/942-7/944
Khai Vận: 7/944-946
Thụy hiệu Xuất Hoàng đế (出皇帝)
Triều đại Hậu Tấn
Thân phụ Thạch Kính Nho
Thân mẫu An thị
Sinh 914
Mất 974
Liêu Ninh, Trung Quốc

Hậu Tấn Xuất Đế hay Thiếu Đế Thạch Trọng Quý (914-974), là vị vua thứ hai của nhà Hậu Tấn. Ông trị vì từ năm 942 tới năm 946.

Sơ kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Thạch Trọng Quý là con của Thạch Kính Nho và An thị[3]. Ông sinh ngày 27 tháng 6 âm lịch năm 914[3] tại Thái Nguyên. Kính Nho là anh trai của Hậu Tấn Cao Tổ Thạch Kính Đường nhưng chết sớm, do đó Trọng Quý được Kính Đường nhận làm con (tụng tử). Hậu Tấn Cao Tổ có sáu con trai nhưng 5 người chết sớm, chỉ còn người con thứ sáu là Thạch Trọng Duệ còn ít tuổi. Sau khi Kính Đường làm phản nhà Hậu Đường để lập ra nhà Hậu Tấn năm 936 thì ông được phong làm Kim tử quang lộc đại phu, kiểm giáo tư đồ và điều đi làm phủ doãn Thái Nguyên, rồi tiết độ sứ Hà Đông[3].

Tháng 9 năm Thiên Phúc thứ 2 (937) tấn phong quang lộc đại phu, kiểm giáo thái bảo, hữu kim ngô vệ thượng tướng quân[3]. Tháng 12 năm Thiên Phúc thứ 3 (938), đảm nhận chức phủ doãn Khai Phong, gia thêm hàm kiểm giáo thái phó, tấn phong Trịnh vương, tăng thực ấp 3.000 hộ. Sau đó phong thêm là kiểm giáo thái uý, đồng trung thư môn hạ bình chương sự[3].

Năm Thiên Phúc thứ 6 (941) đổi sang làm phủ doãn Quảng Tấn, tấn phong Tề vương. Đầu năm sau (942) kiêm thêm chức thị trung[3].

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm Thiên Phúc thứ 7 (942), Hậu Tấn Cao Tổ chết. Trọng Quý kế vị. Ông vẫn duy trì niên hiệu Thiên Phúc. Năm 943 tại 27 châu quận của nhà Hậu Tấn phát sinh nạn châu chấu làm cho tới 100.000 người chết đói. Năm sau, tại Lũng Châu có tới 56.000 người chết đói.

Thạch Trọng Quý nghe theo lời khuyên của trọng thần Cảnh Diên Quảng, bỏ chính sách thần phục người Khiết Đan của Hậu Tấn Cao Tổ, không chịu xưng thần với nhà Liêu của người Khiết Đan, làm cho quan hệ hai nước xấu đi. Tháng giêng năm Thiên Phúc thứ 9 (944) nhà Liêu bắt đầu đem quân tấn công Hậu Tấn. Tháng 7 năm đó ông đổi niên hiệu thành Khai Vận. Chiến tranh giữa hai bên kéo dài trong ba năm với nhiều trận thắng thua cho cả hai bên. Tháng 12 năm Khai Vận thứ 3 các tướng Đỗ Uy, Lý Thủ Trinh, Trương Ngạn Trạch đem quân hàng Khiết Đan. Nhà Liêu sai Trương Ngạn Trạch làm tiên phong tấn công Khai Phong. Thạch Trọng Quý đầu hàng.

Sau khi mất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng giêng năm 947, vua Liêu Thái Tông Da Luật Đức Quang giáng Thạch Trọng Quý làm quang lộc đại phu, kiểm giáo thái úy, phong Phụ Nghĩa hầu. Hậu Tấn chính thức diệt vong. Thạch Trọng Quý bị an trí tại Hoàng Long phủ[4], sau đó di dời tới Kiến Châu[4]. Cựu Ngũ đại sử dẫn "Tấn triều hãm phiền ký" của Phạm Chất cho rằng Thạch Trọng Quý chết năm 964 [phàm thập bát niên nhi tốt][4]. Nhưng bia mộ của Thạch Trọng Quý (hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Liêu Ninh) thì chép rằng ông chết ngày 18 tháng 6 âm lịch năm Bảo Ninh thứ 6 thời Liêu Cảnh Tông Da Luật Hiền (tức năm 974).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu Tấn Xuất Đế
Sinh:  , 914 Mất:  , năm 974
Tước hiệu
Tiền vị
Hậu Tấn Cao Tổ
Hoàng đế Trung Hoa (Hoa Bắc)
942-946
Kế vị
Hậu Hán Cao Tổ
(Nhà Hậu Hán)
Hoàng đế Hậu Tấn
942-946
Kế vị
không có