Hafni dioxit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hafni dioxit
Kristallstruktur Zirconium(IV)-oxid.png
Hafnium(IV) oxide.jpg
Danh pháp IUPAC Hafnium(IV) oxide
Tên khác Hafnium dioxide
Hafnia
Nhận dạng
Số CAS 12055-23-1
Thuộc tính
Công thức phân tử HfO2
Khối lượng mol 210.49 g/mol
Bề ngoài bột trắng
Khối lượng riêng 9.68 g/cm3, solid
Điểm nóng chảy 2.758 °C (3.031 K; 4.996 °F)
Điểm sôi 5.400 °C (5.670 K; 9.750 °F)
Độ hòa tan trong nước không tan
MagSus −23.0·10−6 cm3/mol
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).

Hafni(IV) oxit là một hợp chất vô cơ có thành phần gồm hai nguyên tố là Hafni và oxi, và có công thức hóa học được quy định là HfO2. Hợp chất này, ngoài tên gọi là Hafni dioxit hay Hafni(IV) oxit, còn được gọi dưới cái tên khác là hafnia. Nó là một chất rắn không màu, một trong những hợp chất phổ biến nhất và ổn định của nguyên tố Hafni.[1]

Hafni(IV) oxit được đánh giá là khá trơ. Nó phản ứng với axit mạnh như axit sunfuric cô đặc và với các bazơ mạnh. Ngoài ra, nó cũng hòa tan chậm trong axit hidro floric để tạo ra anion fluorohafnat. Ở nhiệt độ cao, nó phản ứng với clo trong sự có mặt của graphite hoặc cacbon tetraclorit để tạo ra tetra cacbonfen.

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm gần đây, hợp chất hafni oxit được nêu lên như một hợp chất có thể ứng dụng để sản xuất bộ nhớ chuyển đổi điện trở[2] và bộ nhớ điện từ tương thích CMOS.[3][4]

Do có nhiệt dộ nóng chảy cao, hafnia được sử dụng làm vật liệu chịu nhiệt, trong phần cách điện của các thiết bị như cặp nhiệt điện, thiết bị có thể làm tăng nhiệt độ lên đến 2500 °C.[5]

Các phim đa lớp của hafni dioxit, silica, và các vật liệu khác được nghiên cứu phát triển để sử dụng trong vấn đề làm mát thụ động của các công trình xây dựng.[6]

Độc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu chứng khi tiếp xúc vào hợp chất này là gây kích ứng mắt, da và niêm mạc.[7]

Các hợp chất hafni: Nhiều hợp chất hafni là chất kích thích nhẹ mắt, da và niêm mạc. Hafni oxfamphat đã được nghiên cứu là gây độc tính qua đường ruột trong các mẫu nghiên cứu trên động vật.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]