Hannibal Hamlin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Hannibal Hamlin
Hannibal Hamlin, photo portrait seated, c1860-65.jpg
Phó Tổng thống Hoa Kỳ thứ 15
Nhiệm kỳ
4 tháng 3 năm 1861 – 4 tháng 3 năm 1865
Tổng thốngAbraham Lincoln
Tiền nhiệmJohn C. Breckinridge
Kế nhiệmAndrew Johnson
Đại sứ Hoa Kỳ tại Tây Ban Nha
Nhiệm kỳ
20 tháng 12 năm 1881 – 17 tháng 10 năm 1882
Tổng thốngJames Garfield
Chester A. Arthur
Tiền nhiệmLucius Fairchild
Kế nhiệmJohn W. Foster
United States Senator
từ Maine
Nhiệm kỳ
4 tháng 3 năm 1869 – 3 tháng 3 năm 1881
Tiền nhiệmLot M. Morrill
Kế nhiệmEugene Hale
Nhiệm kỳ
4 tháng 3 năm 1857 – 17 tháng 1 năm 1861
Tiền nhiệmAmos Nourse
Kế nhiệmLot M. Morrill
Nhiệm kỳ
8 tháng 6 năm 1848 – 7 tháng 1 năm 1857
Tiền nhiệmWyman B. S. Moor
Kế nhiệmAmos Nourse
Thống đốc Maine thứ 26
Nhiệm kỳ
8 tháng 1 năm 1857 – 25 tháng 1 năm 1857
Tiền nhiệmSamuel Wells
Kế nhiệmJoseph H. Williams
Nghị sĩ Hạ viện Hoa Kỳ
từ quận 6thcủa Maine
Nhiệm kỳ
4 tháng 3 năm 1841 – 4 tháng 3 năm 1847
Tiền nhiệmAlfred Marshall
Kế nhiệmJames S. Wiley
Thông tin cá nhân
Sinh(1809-08-27)27 tháng 8, 1809
Paris, Massachusetts, Hoa Kỳ
(nay là Maine)
Mất4 tháng 7, 1891(1891-07-04) (81 tuổi)
Bangor, Maine, Hoa Kỳ
Nơi an nghỉMount Hope Cemetery
Đảng chính trịDân chủ (Trước 1856)
Cộng hòa (1856–1891)
Phối ngẫu
Sarah Emery
(cưới 1833⁠–⁠1855)

Ellen Emery
(cưới 1856)
Con cái6
Chữ kýCursive signature in ink

Hannibal Hamlin (27 tháng 8 năm 1809 – 4 tháng 7 năm 1891) là một luật sư và chính trị gia từ Maine. Ông từng là Phó Tổng thống của Hoa Kỳ đầu tiên Đảng Cộng hòa.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hamlin thời tuổi trên 30 hoặc 40

Hamlin sinh ra trong gia đình ông bà Cyrus Hamlin và vợ Anna, nhũ danh Livermore, ở Paris (ở Maine ngày nay, sau đó là một phần của Massachusetts). Ông là hậu duệ của thế hệ thứ sáu của thực dân Anh James Hamlin, người đã định cư tại Massachusetts Bay Colony năm 1639. Ông là cháu trai của Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Samuel Livermore II[1] của New Hampshire.

Hamlin đã theo học các trường học của quận và Học viện Hebron và sau đó quản lý trang trại của cha mình. Từ năm 1827 đến năm 1830, ông xuất bản báo Oxford Jeffersonian hợp tác với Horatio King.[2]

Ông học luật với công ty do Samuel Fessenden đứng đầu,[3] được nhận vào quán bar năm 1833, và bắt đầu thực hành tại Hampden, Maine, nơi ông sống cho đến năm 1848.[cần dẫn nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hamlin, Charles Eugene (1899). The Life and Times of Hannibal Hamlin by his Grandson Charles Eugene Hamlin. Cambridge, Massachusetts: Riverside Press. tr. 2,12. 
  2. ^ Waterman, Charles E. (1 tháng 8 năm 1891). “The Birthplace of Hannibal Hamlin”. The New England Magazine (Boston, MA) 4 (6): 731. 
  3. ^ Hamlin, Charles Eugene (1899). The Life and Times of Hannibal Hamlin. Cambridge, Massachusetts: Riverside Press. tr. 41.