Hoàng Lang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hoàng Lang
Tên khai sinh Phạm Phúc Hiển
Sinh 1930
Gia Định, Việt Nam
Mất 27 tháng 11 năm 2004
Genève, Thụy Sĩ
Thể loại Tình khúc 1954-1975
Nghề nghiệp nhạc sĩ, nhà báo, nhà giáo

Hoàng Lang tên thật là Phạm Phúc Hiển, sinh năm 1930 tại làng Tân Mỹ Ðông, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Ðịnh. Ông sinh trưởng trong một gia đình trung lưu có ba người con mà ông là trai trưởng với 2 người em gái.

Năm 1956, ông là giáo sư dạy nhạc tại trường Petrus Ký.[1]

Từ 1954-1972, ông là trưởng ban nhạc đàn dây Hoàng Lang của Đài Phát thanh Saigon. Trên Ðài Tiếng Nói Quân Ðội, ông phụ trách điều khiển chương trình nhạc Hương Xưa chuyên trình bày những nhạc phẩm tiền chiến, chương trình Thi Nhạc Giao Duyên với nhà thơ Vương Ðức Lệ (tức cựu quản đốc Ðài Phát Thanh Long An) và chương trình nhạc Thiếu Nhi. Ngoài ra, nhạc sĩ Hoàng Lang còn cộng tác với Ðài Truyền hình VN và các hãng dĩa nhạc trước 75 như Lê Văn Tài, Việt Nam, Asia và Sóng Nhạc.

Trong một khoảng thời gian ngắn từ 1953 đến 1956, ông cũng đã cộng tác rất đắc lực với nhật báo Tiếng Chuông của Ðinh Văn Khai, viết về tin tức; với tuần báo của nhà văn Nguyễn Vỹ, viết những bài về cuộc đời các nhạc sĩ và những bài phê bình âm nhạc

Năm 1972, ông sang Thụy Sĩ để bổ túc âm nhạc nhưng vì biến cố 30/4/1975, ông bị kẹt lại tại Thụy Sĩ cho đến khi qua đời. Ở Thụy Sĩ, ông mở một số lớp Việt Ngữ cho dân bản xứ. Năm 1980, chính phủ Thụy Sĩ đã chọn ông là thông dịch viên tiếng Việt chính thức của Tổng cục Liên Bang Tị Nạn Thụy Sĩ, hội Chữ Thập Đỏ, các Tòa án, các cơ sở chính quyền tại Geneve cũng như tại một số tỉnh lân cận thuộc nước Pháp.

Ông mất ngày 27 tháng 11 năm 2004 tại Genève, Thụy Sĩ.

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Hơn 50 năm phục vụ âm nhạc, ông đã có hơn 150 sáng tác phẩm đủ loại. Khoảng 50 tác phẩm đã được in thành bản hoặc thành tập phổ biến trên thị trường cộng với trên 30 nhạc phẩm đã được thu thanh.

Viết riêng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tơ lòng nghệ sĩ (1948)
  • Máu học sinh (1949)[2]
  • Câu hát tâm tình (1953)[3]
  • Bài ca dinh điền (1955)
  • Khúc hát bình minh (1956)
  • Dạ khúc hoài cảm (1958)
  • Dòng sông hát (trường ca, 1958)
  • Em từ đâu đến (1987)
  • Tha thiết (1987)
  • Khúc ca lên đường
  • Xông pha
  • Lên đường
  • Vui ra đi
  • Hoa cắm trên đầu súng
  • Đàn tôi yêu một tiếng ca
  • Một đoá hoa rơi
  • Cánh chim hồng
  • Tơ lòng nghệ sĩ
  • Tình đất
  • Nắng thôn chiều
  • Bên dòng Đồng Nai
  • Quê tôi miền Cái Sắn
  • Gặt lúa
  • Đẹp giòng Hương Giang
  • Xóm cũ đường xưa
  • Nhớ tình suối trăng
  • Áng mây trắng
  • Yêu em
  • Chuyến tàu biên ải
  • Vinh danh đức mẹ Maria

Viết chung[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đã cùng một số học trò, bạn hữu hợp soạn nhiều bài hát để kỷ niệm.

  • Đôi mắt người xưa (Ngọc Linh)
  • Người ơi hát làm chi (Thanh Nam)
  • Thu biên thùy (Thu Hồ)
  • Lưu luyến (Dương Quang Định)
  • Đôi ta (Huy Phong)
  • Mây trôi lòng giạt mãi đâu (Huy Trâm)
  • Thiên thu (Vương Đức Lệ)
  • Chiều thu ấy (Lam Phương)
  • Lá thư xanh (Lam Phương)
  • Đồng nội đêm trăng (Trần Thiện Thanh)
  • Hoài thu (Văn Trí)
  • Bài ca sông Cửu (Văn Trí)
  • Thu đi cho mắt nai buồn (Văn Trí)
  • Miền quê tôi (Thùy Linh)
  • Anh về giữa mùa hoa (Thùy Linh)
  • Một chiều mưa (Thùy Linh)
  • Đợi chờ (Trương Văn Tuyên)
  • Cao Sơn Lưu Thủy (hoà tấu)[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nhạc sĩ Hoàng Lang, Lê Thái, Vietnhac.org
  2. ^ tưởng niệm Trần Văn Ơn - bạn học chung trường Petrus Ký bị bắn chết.
  3. ^ nhạc đệm của phim Ngã Rẽ Tâm Tình.
  4. ^ viết chung với Võ Đức Tuyết, trình tấu trong ngày hội kỷ niệm âm nhạc Mozart tại Việt Nam.