Hoa sữa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Alstonia scholaris
Alstonia.scholaris.jpg
Cây hoa sữa (Alstonia scholaris)
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Gentianales
Họ (familia) Apocynaceae
Phân họ (subfamilia) Rauvolfioideae
Tông (tribus) Plumeriae
Phân tông (subtribus) Alstoniinae
Chi (genus) Alstonia
Loài (species) A. scholaris
Danh pháp hai phần
Alstonia scholaris
L. R. Br.
Danh pháp đồng nghĩa[2]
  • Echites scholaris L.

Hoa sữa hay còn gọi là mò cua, mò cua (danh pháp khoa học: Alstonia scholaris) là một loài thực vật nhiệt đới thường xanh thuộc chi Hoa sữa, họ La bố ma (Apocynaceae).

Sinh học và sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]

Cách sắp xếp của lá
Vết nứt trên vỏ thân cây ở Hong Kong
Hoa sữa nở vào tháng 10 năm 2014 ở Mumbai, Ấn Độ
Alstonia scholaris ở Viện công nghệ Ấn Độ - Kanpur

Cây gỗ nhỡ, thường xanh, có thể cao tới 40m. Sinh trưởng nhịp điệu phân cành thành tầng tán. Thân cây thẳng, tròn, gốc có thể có khía nâu, vỏ nứt nẻ dọc mùn, nhựa màu trắng đục, thịt vỏ màu trắng. đơn nguyên mọc chụm đầu cành từ 3-10 lá. Phiến lá hình trứng ngược, dài 10 – 25 cm, rộng 4 – 7 cm, đầu tù hoặc hơi lõm, đuôi nêm. Mặt trên phiến lá xanh bóng, mặt dưới màu xám bạc. Phiến lá có hệ gân lông chim, có từ 25-50 cặp gân thứ cấp, gân thứ cấp lệch góc so với gân chính từ 80-90o. Cuống lá từ 1–3 cm.

Hoa tự tán, bông hoa nhỏ, màu trắng đến vàng nhạt, nở từ tháng 6 đến tháng 11, có mùi thơm như hoa Dạ lý hương. Quả 2 đại, dài 25 – 30 cm, thõng xuống, mùa quả từ tháng 10 đến tháng mười hai. Hạt nhiều, nhỏ, dẹp, dài 70mm, rộng 2,5mm, mang 2 túm lông ở hai đầu, màu trắng. Bộ nhiễm sắc thể 2n = 22.[3]

Cây phân bổ ở rừng hỗn giao, cũng thường được trồng quang thôn bản hoặc cây xanh dọc đường. Trong tự nhiên cây xuất hiện ở độ cao từ 200-1000m so với mực nước biển. Trên thế giới cây phân bổ ở Đông và Nam châu Á, châu Úc: Nam Trung Hoa, Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka,Campuchia, Myanma, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Singapore, Philippines, Úc(Queensland), Papua New Guinea.[4]

Cây cũng được nhập trồng tại nhiều nước khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới khác.

Trong Phật giáo tiểu thừa cây hoa sữa cũng được xem như là một loài cây của sự giác ngộ, nó cũng từng được Đức Phật gọi tên là Thanhankara - තණ්හංකර. Trong tiếng Sinhala nó là රුක් අත්තන.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Cây hoa sữa phát triển nhanh, ít sâu bệnh, cho bóng mát quanh năm, có thể sử dụng làm cây bóng mát một cách hạn chế. Gỗ của cây hoa sữa thường nhẹ và có màu trắng, có thể dùng đóng một số đồ gia dụng như làm bút chì,[5] quan tài, nút chai.[6]

Mùi hương nồng[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa sữa có mùi thơm nếu trồng với mật độ vừa phải và nồng nặc khi trồng với mật độ cao. Ở Việt Nam, một số tỉnh như Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, vào năm 1994, người dân đã gửi đơn "kiện" hoa sữa do nó được trồng dày đặc trên các đường phố, gây ảnh hưởng đến sức khỏe[7][8]

Thơ văn[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ World Conservation Monitoring Centre (1998). Alstonia scholaris. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.1. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ “Alstonia scholaris (L.) R. Br. — The Plant List”. Truy cập 30 tháng 9 năm 2015. 
  3. ^ Flora of China @ efloras.org: 糖胶树
  4. ^ http://www.ars-grin.gov/cgi-bin/npgs/html/taxon.pl?2688 Truy cập này 29 tháng 6, 2007
  5. ^ Tonanont, N. Wood used in pencil making. Vanasarn 1974 Vol. 32 No. 3 pp. 225-227
  6. ^ “retrieved on ngày 29 tháng 6 năm 2007”. Botanical.com. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012. 
  7. ^ Người miền Trung lại khổ vì… hoa sữa, truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2007
  8. ^ Lạng sơn khốn khổ vì hoa sữa

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]