How I Met Your Mother (phần 1)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
How I Met Your Mother (phần 1)
How I Met Your Mother Season 1 DVD Cover.jpg
Bìa DVD phần 1
Quốc gia gốc Hoa Kỳ
Thứ tự tập 22
Phát sóng
Kênh gốc CBS
Thời gian phát sóng 19 tháng 9 năm 2005 – 15 tháng 5 năm 2006
Lịch phát hành DVD
Phát hành DVD
Khu vực 1 4 tháng 9 năm 2007
Region 2 7 tháng 5 năm 2007
Region 4 10 tháng 1 năm 2007
Mùa phim
← Trước
Kế →
Phần 2
Danh sách tập phim How I Met Your Mother

Phần đầu tiên của How I Met Your Mother, một loạt phim hài kịch tình huống truyền hình dài tập của Hoa Kỳ do Carter BaysCraig Thomas sáng lập, đã được công chiếu trên đài CBS tại Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 9 năm 2005 và kết thúc vào ngày 15 tháng 5 năm 2006. Phần phim do Pamela Fryman đạo diễn với sự sản xuất bởi Bays & Thomas Productions và 20th Century Fox Television. Phần phim bao gồm 22 tập, mỗi tập dài xấp xỉ 22 phút.

Phần phim giới thiệu về nhân vật Ted Mosby (do Bob Saget lồng tiếng) trong năm 2030 khi ngồi xuống và kể cho các con mình nghe câu chuyện khi anh gặp mẹ chúng. Câu chuyện bắt đầu vào năm 2005, với Ted (Josh Radnor) là một kiến trúc sư độc thân 27 tuổi sống tại Manhattan cùng với hai người bạn thân từ thời Đại học: Marshall Eriksen (Jason Segel), một sinh viên luật và Lily Aldrin (Alyson Hannigan), một giáo viên mẫu giáo, người hẹn hò cùng Marshall trong gần 9 năm cho đến khi anh cầu hôn cô. Cuộc hôn nhân của họ tác động đến Ted và khiến anh cố gắng tìm cho mình một người bạn đời, khiến cho người tự nhận là bạn thân của anh, Barney Stinson (Neil Patrick Harris) phải chán ghét. Trong khi bắt đầu tìm một nửa hoàn hảo của mình, Ted gặp được một nữ phóng viên trẻ tuổi, Robin Scherbatsky (Cobie Smulders) và nhanh chóng có cảm tình. Dù vậy, Robin không muốn yêu đương vội vàng và cả hai đều quyết định trở thành bạn. Ted sau đó hẹn hò cùng cô thợ làm bánh Victoria, nhưng khi cô ấy chuyển đến Đức trong một hội nấu ăn, Ted lại khiến Robin tin rằng họ đã chia tay. Sau cùng, chuyện giữa anh và Victoria đổ vỡ trong khi Robin cố gắng xa lánh anh. Khi càng gần đến ngày cưới, Lily bắt đầu tự hỏi liệu có lỡ mất bất kì cơ hội nào chỉ vì mối quan hệ giữa cô và Marshall hay không, trước khi quyết định theo đuổi một nhóm hội hoạ tại San Francisco và huỷ bỏ hôn ước của mình.

Phần phim này nhận được những phản hồi trái chiều. Trên trang mạng tổng hợp Rotten Tomatoes, có 56% các nhà phê bình cho kết quả tích cực, đồng nghĩa với mức đánh giá tiêu cực.[1] Dù vậy, phần phim vẫn được xuất hiện trong nhiều danh sách truyền hình xuất sắc, có bao gồm tạp chí TimeChicago Tribune.[2][3] Phần phim nhận được trung bình 9.47 triệu người xem trong mỗi 22 tập công chiếu tại Hoa Kỳ. Trong danh sách chương trình hợp lệ được phát trong khung giờ vàng năm 2005-06 tại Mỹ, How I Met Your Mother xếp thứ 51 trên 156, theo hệ thống kiểm định Nielsen.[4] Tập phim đầu tiên đạt 10.94 triệu người xem,[5] trong khi tập cuối được theo dõi bởi 8.64 triệu người.[6]

Tuyển vai[sửa | sửa mã nguồn]

Phần đầu tiên có sự xuất hiện của 5 diễn viên trong vai chính. Josh Radnor thủ vai Ted, một kiến trúc sư trẻ tuổi, người vẫn đang tìm cho mình một người vợ tương lai. Jason SegelAlyson Hannigan trong vai Marshall EriksenLily Aldrin, một cặp tình nhân đã đính hôn cùng nhau. Cobie Smulders trong vai Robin Scherbatsky, một phóng viên đầy tham vọng, người mà Ted phải lòng. Barney Stinson, người tự xưng là bạn thân của Ted và là một kẻ lăng nhăng, do Neil Patrick Harris thủ vai. Phần một cũng giới thiệu các vai phụ, bao gồm Lyndsy FonsecaDavid Henrie trong vai các con của Ted và Ashley Williams trong vai Victoria, người tình của Ted trong nửa sau của phần này. Tập đầu của phim được đề cử cho giải Casting Society of America cho hạng mục "Tập mở đầu phim hài truyền hình xuất sắc nhất".[7]

How I Met Your Mother được lấy cảm hứng từ ý tưởng của Carter Bays và Craig Thomas khi "viết về những người bạn của chúng tôi và những điều điên rồ mà chúng tôi làm ở New York," khi họ từng là biên kịch truyền hình cho chương trình Late Show with David Letterman.[8] Cả hai đều mang tình bạn vào việc chế tác các nhân vật. Ted được mô phỏng theo Bays, Marshall và Lily được diễn tả giống như Thomas và vợ của anh, Rebecca, người ban đầu tỏ ra miễn cưỡng khi biết có một nhân vật được dựa trên cô ấy nhưng sau đó đồng tình khi biết Hannigan là người nhận vai.[9][10] Radnor và Segel lúc đó còn là những cái tên chưa được biết tới, nhưng Smulders, một diễn viên chưa có tên tuổi khác, nhận vai Robin sau khi Jennifer Love Hewitt bỏ qua vai này và tham gia loạt phim Ghost Whisperer.[11] Bays và Thomas chia sẻ "tạ ơn Chúa chúng tôi đã chọn cô ấy vì hàng triệu lý do... khi Ted gặp cô ấy lần đầu thì cả nước Mỹ cũng lần đầu tiên được ngắm nhìn cô ấy - sự hấp dẫn của việc đó đẩy loạt phim được tiếp tục đi lên và giữ mạch sống cho toàn loạt phim".[12]

Vai Barney được nhắm sẵn theo "kiểu John Belushi",[13] trước khi Neil Patrick Harris trúng tuyển nhận vai sau khi được mời đến buổi thử vai bởi đạo diễn tuyển vai của loạt phim - Megan Branman.[14] Vai diễn được xem là nhân vật đột phá của loạt phim, Variety gọi đây là một "vai diễn đột phá lớn"[15]Boston.com đề bật vai diễn này là "yếu tố được bàn luận nhiều nhất của loạt phim".[16] Robert Bianco từ USA Today cho rằng Harris "tỏa sáng" trong vai diễn này và khen ngợi phần diễn xuất "thú vị" của Hannigan sánh ngang cùng Buffy the Vampire Slayer.[17]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Phần phim đầu tiên của How I Met Your Mother nhận được các phản hồi trái chiều bởi các nhà phê bình truyền hình. Tại trang web đánh giá Metacritic, phần phim đạt 69 trên 100 điểm với 25 bài đánh giá.[18] Nhiều nhà phê bình so sánh phim với loạt phim truyền hình hài kịch tình huống Friends, với ý kiến cho rằng đây là một "bản kế nhiệm đáng giá"[19] và là một phiên bản "xào nấu lại thực hiện tốt".[2] James Poniewozik của Time liệt loạt phim vào danh sách "Chương trình truyền hình xuất sắc nhất" cùng một đánh giá tích cực, cho rằng "biên kịch phim hiểu rõ những nhân vật này từ trong ra ngoài dù phim chỉ mới bắt đầu vài tập". Dù vậy, Poniewozik lại chế giễu phần thuật lại của Ted, tức phần tiền đề của loạt phim, khi diễn tả nó là một "sự sao nhãng một cách phô trương".[2] Trong một đánh giá tích cực khác, Hal Boedeker của The Orlando Sentinel lại cho rằng "những nút thắt của loạt phim có thể kéo khán giả trở lại thực tế" và đề cao năm diễn viên chính với cụm từ "không thể cưỡng lại."[19] The A.V. Club gọi phần tiền đề của loạt phim là "một nhà quán quân" và đề cao sự "quyến rũ" của các diễn viên trong loạt phim, nhưng phê bình việc vẫn bị kẹt trong mô típ loạt phim độc thoại bình thường,[20] cũng như Doug Elfman từ Chicago Sun-Times, người chỉ trích phần kịch bản phim, khi mô tả chỉ hơn một loạt "những trò đùa rẻ mạt".[21]

Robert Bianco từ USA Today có đánh giá tích cực hơn, khi đề cao "dàn diễn viên tốt" cùng "kịch bản hài hước" và gọi đây là loạt phim "sáng tạo nhất" trong các loạt phim mới trong năm đó.[17] The New York Times cho rằng phim "dễ chịu khi xem" và "có tiềm năng phát triển", nhưng lại không phải là loạt phim hài kịch tình huống gây nên cách mạng hoá hay tạo nên bất cứ một hiện tượng văn hoá nào.[22] Charlie McCollum của The San Jose Mercury News có viết rằng How I Met Your Mother là một ứng cử viên số một cho việc thay thế Friends trong thể loại hài kịch tình huống, đề cao loạt phim là "một thứ gì đó thực sự dí dỏm và có sức hấp dẫn lớn". Charlie còn đề cao biên kịch phim trong việc "đưa làn gió mới đến công thức loạt phim hài kịch tình huống rập khuôn" và cả dàn làm phim vì "đánh trúng vào sự hài hước và tâm lý người xem ngay từ những cảnh đầu tiên", dự đoán đây có thể là một sản phẩm sáng tạo nổi bật với khán giả.[23]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Phần phim đầu tiên được đề cử cho 4 giải và thắng 2 giải. Cả hai lần thắng đều diễn ra tại Giải Emmy Primetime lần thứ 58, ở hạng mục "Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc cho phim truyền hình" và "Kĩ thuật quay phim nổi bật cho phim truyền hình".[24] Ngoài ra, phần phim còn được đề cử cho giải People's Choice Awards cho "Phim hài truyền hình mới được yêu thích nhất"[25] và tại Casting Society of America cho "Dàn diễn viên tập đầu phim hài truyền hình xuất sắc nhất".[7]

Phân phối[sửa | sửa mã nguồn]

CBS công chiếu phần phim này tại Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 9 năm 2005. Trên thế giới, phần phim được công chiếu tại Anh Quốc trên đài BBC Two ngày 22 tháng 8 năm 2007,[26] trên kênh CityTV tại Canada[27] và tại Úc trên đài Seven Network.[28]

Phần đầu của loạt phim được phát hành dưới dạng DVD tại Mỹ dưới cái tên How I Met Your Mother phần 1 cùng dòng tựa đề "Một câu chuyện tình được thuật lại" vào ngày 21 tháng 11 năm 2006 dưới dạng một bộ gồm 3 đĩa.[29] Trong DVD, phim được cắt lại phần màn hình rộng gốc thành khung hình 4:3.[30] Bộ đĩa tại Khu vực 2 được phát hành ngày 7 tháng 5 năm 2007 và Khu vực 4 ngày 10 tháng 1 năm 2007. Mỗi tập trong phần này đều được truyền tiếp trên hệ thống NetflixAmazon Instant Video, đồng thời có thể được mua tại Cửa hàng iTunes tại Mỹ.[31]

Tập phim[sửa | sửa mã nguồn]

Số tập
tổng thể
Số tập
theo phần
Tên tập phim Đạo diễn Biên kịch Ngày công chiếu Mã sản xuất Khán giả Hoa Kỳ
(triệu người)
1 1 "Tập phim mở đầu" Pamela Fryman Carter Bays & Craig Thomas 19 tháng 9, 2005 (2005-09-19) 1ALH79 10.94[5]
Sau khi hai người bạn thân Marshall và Lily đính hôn cùng nhau, Ted nài nỉ Barney tìm cho anh một nửa của đời mình. Anh định sẵn một buổi hẹn hò cùng Robin, một cô gái mà anh gặp ở quán bar gần nhà nhưng lại làm cô ấy hoảng sợ khi vô tình tiết lộ tình cảm của mình ngay trong lần đầu hẹn hò. Trong lúc đó, Marshall vô tình làm Lily bị chấn thương ở mắt sau khi họ đính hôn cùng nhau, buộc cô phải mang một cái mạng che mắt. 
2 2 "Purple Giraffe" Pamela Fryman Carter Bays & Craig Thomas 26 tháng 9, 2005 (2005-09-26) 1ALH01 10.40[32]
Với ý định muốn hàn gắn lại mọi chuyện với Robin, Ted giả vờ có một mối quan hệ "tình cờ" với cô khi liên tục mời cô đến một loạt những bữa tiệc. Marshall cố gắng viết bài luận quan trọng dài tận 25 trang về luật, nhưng tiệc của Ted và khao khát ân ái của Lily sau khi đính hôn khiến anh bị sao nhãng. Trong lúc đó, Barney đang cố gắng để chấm dứt một mối quan hệ mà anh không hề biết đã bắt đầu. 
3 3 "Sweet Taste of Liberty" Pamela Fryman Phil Lord & Chris Miller 3 tháng 10, 2005 (2005-10-03) 1ALH02 10.44[33]
Ted đồng ý để Barney phá vỡ thói quen thường ngày của mình bằng một chuyến đi bất ngờ đến Philadelphia và gặp hàng tá những vấn đề tại khâu bảo vệ tại sân bay. Trong lúc đó, Lily trở nên ghen tức khi không giỏi việc quyến rũ đàn ông như Robin, khiến cô đổ lỗi cho chiếc nhẫn đính hôn của mình. Marshall phải đến 2 trường hợp trên và gỡ rối cho cả nhóm. 
4 4 "Return of the Shirt" Pamela Fryman Kourtney Kang 10 tháng 10, 2005 (2005-10-10) 1ALH03 9.84[34]
Trong lúc tìm kiếm một nửa cho mình, Ted có cơ hội nhớ lại những chuyện tình cũ của mình. Không may thay, người phụ nữ mà anh tưởng đã chia tay vài năm trước vẫn còn hận anh. Trong lúc đó, Barney thách Robin phải đọc lướt qua những từ hoặc cụm từ dung tục trong buổi ghi hình hằng ngày của cô tại Metro News One. Dù vậy, Robin lại bắt đầu nhận ra độ quan trọng của công việc mà cô đang làm hơn nữa. 
5 5 "Okay Awesome" Pamela Fryman Chris Harris 17 tháng 10, 2005 (2005-10-17) 1ALH04 10.14[35]
Robin rủ cả nhóm đến một hộp đêm nhưng Marshall và Lily lại quyết định chủ trì một buổi tiệc rượu vang và phô mát để chứng tỏ đã cư xử trưởng thành hơn. Marshall và Lily sau đó nhanh chóng chán chường với buổi tiệc và bỏ trốn đến cùng các bạn của mình tại hộp đêm. Trong lúc đó, Ted và Barney cùng trải nghiệm những sự kiện không thể biết trước được khi đang nhảy. 
6 6 "Slutty Pumpkin" Pamela Fryman Brenda Hsueh 24 tháng 10, 2005 (2005-10-24) 1ALH05 10.89[36]
Marshall và Lily đang rất háo hức để tham gia trong cuộc thi hoá trang theo cặp ở quán rượu quen thuộc. Trong khi đó, Robin lại diện cớ để không mặc đồ cặp cùng bạn trai và tạo nên sức ép trong chuyện tình cảm của mình. Ted vẫn còn đang tham dự buổi tiệc Halloween trên nóc nhà chung cư để tìm cô gái mà anh gặp 3 năm trước đây. 
7 7 "Matchmaker" Pamela Fryman Sam Johnson & Chris Marcil 7 tháng 11, 2005 (2005-11-07) 1ALH07 10.55[37]
Robin giới thiệu cho Ted một dịch vụ tìm người yêu trên mạng với tỉ lệ thành công đến 100%. Khi dịch vụ đó gửi cho Ted kết quả vô nghiệm, Ted lén đưa thông tin của mình vào máy tính để gặp gỡ một nữ chuyên khoa da liễu và vạch trần việc dự đoán sai lầm. Trong lúc đó, Marshall và Lily trở nên ám ảnh với việc đuổi theo một sinh vật lai lạ lùng và bất bình thường ra khỏi căn hộ của mình. 
8 8 "The Duel" Pamela Fryman Gloria Calderon Kellett 14 tháng 11, 2005 (2005-11-14) 1ALH06 10.35[38]
Khi Lily quyết định chuyển về sống tại căn hộ của Marshall và Ted, Barney cảnh báo Ted việc cả hai sẽ dần cô lập anh khỏi đó. Khi Ted biết được Lily thay thế bình ca phê yêu quý của mình bằng một cái mới, anh bắt đầu cho rằng Barney đúng. Trong lúc đó, Barney sáng chế ra một luật hẹn hò mới và cố gắng để chứng minh đến những người khác điều đó có thể sử dụng được. 
9 9 "Belly Full of Turkey" Pamela Fryman Phil Lord & Chris Miller 21 tháng 11, 2005 (2005-11-21) 1ALH09 10.29[39]
Marshall và Lily đến thăm gia đình của Marshall ở Minnesota trong dịp lễ Tạ ơn nhưng Lily lại thấy lạc lõng giữa một gia đình đông đúc, ồn ào và bảo thủ. Trong lúc đó, Robin và Ted bất ngờ khi biết được Barney là "Tình nguyện viên của năm" ở một nhà bếp địa phương. Ted còn bị bất ngờ hơn khi bắt đầu biết được những việc sai trái đằng sau hội từ thiện đó. 
10 10 "The Pineapple Incident" Pamela Fryman Carter Bays & Craig Thomas 28 tháng 11, 2005 (2005-11-28) 1ALH08 12.27[40]
Ted ngất xỉu sau một đêm tiệc tùng gần nhà và tỉnh dậy vào sáng hôm sau khi bị bong gân mắt cá cùng một chiếc áo khoác bị đốt trụi, một cô gái trên giường và một quả dứa trong phòng. Không thể nhớ bất cứ thứ gì xảy ra đêm trước, anh tìm hỏi những người bạn của mình, cùng cô gái trên giường, Trudy, để nhớ lại những gì đã xảy ra. 
11 11 "The Limo" Pamela Fryman Sam Johnson & Chris Marcil 19 tháng 12, 2005 (2005-12-19) 1ALH10 10.36[41]
Trong đêm giao thừa, Ted làm cả nhóm bất ngờ khi thuê cả một chiếc limo chở họ trong cuộc đi chơi đêm qua thành phố New York. Robin dắt theo bạn trai mới của cô và từng thành viên trong nhóm đã có được một bữa tiệc theo đúng ý thích. Khi chiếc đồng hồ càng gần chỉ về nửa đêm, chiếc limo mắc kẹt giữa dòng xe trên đường họ đi đến bữa tiệc cuối cùng. 
12 12 "The Wedding" Pamela Fryman Kourtney Kang 9 tháng 1, 2006 (2006-01-09) 1ALH11 11.49[42]
Việc Ted quyết định dắt Robin theo một đám cưới của bạn mình gây ra tranh cãi giữa cô dâu và chú rể, sau đó bất ngờ phá huỷ cả đám cưới. Ted và Marshall phải dỗ dành cả hai để tiếp tục làm lễ cưới. Họ chấp thuận, nhưng vì công việc đột xuất mà Robin phải huỷ chuyến đi đến đám cưới cùng Ted và để anh phải đi một mình. 
13 13 "Drumroll, Please" Pamela Fryman Gloria Calderon Kellett 23 tháng 1, 2006 (2006-01-23) 1ALH12 10.82[43]
Ted nhận ra mình bị quyến rũ bởi một người phụ nữ bí ẩn gặp được ở đám cưới của bạn mình. Không thể tìm cô vào sáng hôm sau, Ted nhận được sự giúp đỡ của Barney để tìm cô ấy. Trong lúc đó, Robin rời khỏi nơi làm việc sớm, nhìn thấy Ted đi cùng với cô gái bí ẩn tối hôm trước và đối mặt với tình cảm của cô cho Ted. 
14 14 "Zip, Zip, Zip" Pamela Fryman Brenda Hsueh 6 tháng 2, 2006 (2006-02-06) 1ALH13 10.94[44]
Sau khi chấp thuận việc tiến tới chậm trong mối quan hệ cùng nhau, Ted và Victoria lại đột nhiên thay đổi mọi chuyện khi biết được Victoria sắp rời khỏi đó trong dịp kỉ niệm 1 tháng quen nhau. Khi cả hai đang trải nghiệm một loạt những điều đáng nhớ, Marshall và Lily đang tự hỏi liệu cuộc hôn nhân của họ có đang hết những mốc son hay không. Trong khi đó, Robin quyết định trở thành "anh em" của Barney trong một đêm đi chơi của đàn ông. 
15 15 "Game Night" Pamela Fryman Chris Harris 27 tháng 2, 2006 (2006-02-27) 1ALH14 9.82[45]
Khi Lily biết về cô bạn gái đầu tiên của Barney, Shannon, mọi người đều cố gắng kể về những khoảnh khắc đáng xấu hổ nhất của mình để thuyết phục Barney nói về chuyện tình đầu tiên. Khi Barney còn hẹn hò với Shannon, anh là một cậu bạn trai hết lòng vì cô. Thế nhưng, khi Shannon bịa một câu chuyện để chấm dứt cùng Barney và theo đuổi một người giàu có và ăn mặc đẹp hơn, Barney quyết tâm thay đổi diện mạo trong cuộc sống và trở thành một người như hiện giờ. 
16 16 "Cupcake" Pamela Fryman Maria Farrari 6 tháng 3, 2006 (2006-03-06) 1ALH15 10.15[46]
Chuyện giữa Ted và Victoria đang diễn ra êm đẹp, trước khi Victoria có được cơ hội để tham gia một hội nấu ăn tại Đức. Khi bàn bạc với nhau về mối quan hệ yêu xa này, Marshall và Lily hồi tưởng lại về thời gian mà cô theo học hội hoạ tại Paris, nhưng khi kể câu chuyện về mình, họ đều nhận ra mình không hề biết được sự thật của cả câu chuyện đó. 
17 17 "Life Among the Gorillas" Pamela Fryman Carter Bays & Craig Thomas 20 tháng 3, 2006 (2006-03-20) 1ALH16 9.80[47]
Marshall và Lily cãi nhau về công việc mới của Marshall tại hãng công ty của Barney, điều mà Lily khẳng định sẽ có hậu quả tiêu cực đến danh tiếng của anh ấy. Trong lúc đó, Ted lại cảm thấy có lỗi vì không quan tâm đến Victoria nhiều như cô ấy. Đêm hôm đó, khi Ted đang lo lắng việc Victoria chia tay với mình, anh lại nhận được một tin nhắn từ Robin, gọi anh đến căn hộ của cô ấy. 
18 18 "Nothing Good Happens After 2 A.M." Pamela Fryman Carter Bays & Craig Thomas 10 tháng 4, 2006 (2006-04-10) 1ALH17 7.65[48]
Khi Ted nhận được một tin nhắn mang điềm gở từ Victoria, Ted trở nên chắc chắn về việc cả hai sắp chia tay. Đêm hôm đó, Robin có mời Ted đến căn hộ của cô. Lily và Marshall cố gắng ngăn anh không đến đó, khiến anh có thêm nhiều lý do để đi. Trong lúc đó, Barney cố gắng thuyết phục Lily và Marshall cùng anh có "một buổi tối đi chơi huyền thoại". 
19 19 "Mary the Paralegal" Pamela Fryman Chris Harris 24 tháng 4, 2006 (2006-04-24) 1ALH18 7.60[49]
Robin mời cả nhóm đến một bữa tiệc trao giải, khi cô được vinh danh vì bản tin của mình. Tại bữa tiệc, Barney thuyết phục Ted rằng bạn tình của anh thật ra là một cô gái bán dâm mà Barney thuê, trong khi Ted cũng đang vật lộn khi thấy Robin cùng đồng nghiệp của cô ấy. 
20 20 "Best Prom Ever" Pamela Fryman Ira Ungerleider 1 tháng 5, 2006 (2006-05-01) 1ALH19 7.24[50]
Khi nơi tổ chức đám cưới mơ ước của Lily và Marshall đột nhiên mở cửa sớm hơn ngày cưới dự định hai tháng, họ lại gặp khó khăn trong việc dàn xếp lại lễ cưới. Để xem thử ban nhạc mà họ đang dự định thuê, cả nhóm lén vào vũ hội tại một trường trung học mà nhóm nhạc đó đang chơi. Khi họ nhảy theo ban nhạc, Ted và Robin quyết định thử hàn gắn lại tình bạn của mình. 
21 21 "Milk" Pamela Fryman Carter Bays & Craig Thomas 8 tháng 5, 2006 (2006-05-08) 1ALH20 8.07[51]
Dịch vụ tìm bạn tình cuối cùng cũng gửi trả kết quả với một người thích hợp cho Ted, nhưng khi anh dự định hẹn hò với cô gái này, anh nhận ra mình vẫn còn tình cảm với Robin. Tại nơi làm việc, Barney cùng Marshall đang chơi khăm một người đàn ông làm việc trong toà nhà phía bên kia đường. Trong khi đó, Lily nộp đơn đăng ký tham gia một nhóm hội hoạ tại San Francisco mà không hề nói gì với Marshall, cho dù nó có thể phá huỷ cả kế hoạch làm đám cưới của họ. 
22 22 "Come On" Pamela Fryman Carter Bays & Craig Thomas 15 tháng 5, 2006 (2006-05-15) 1ALH21 8.64[6]
Ted cuối cùng quyết định theo đuổi Robin thay vì người phụ nữ được giới thiệu ở dịch vụ môi giới và cố gắng lấy lòng cô bằng việc tiến tới một chuyện tình dài hạn cùng cô. Trong khi đó, Marshall đang lo lắng về mối quan hệ giữa anh và Lily khi biết cô lén đăng ký một nhóm hội hoạ tại San Francisco. Khi Ted đang học nhảy điệu cầu mưa để gây ấn tượng với Robin, Marshall biết được Lily đã bỏ anh để đi đến nhóm hội hoạ của mình. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “How I Met Your Mother Season 1 Reviews”. Rotten Tomatoes. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2014.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  2. ^ a ă â Poniewozik, James (ngày 16 tháng 12 năm 2005). “Best of 2005: Television”. Time Magazine. Time Inc. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “time” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “time” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  3. ^ Ryan, Maureen (ngày 14 tháng 12 năm 2006). “The Top 10 shows of 2006 (and 10 runners up)”. Chicago Tribune. Tribune Company. 
  4. ^ “2005–06 primetime wrap”. The Hollywood Reporter. Prometheus Global Media. Ngày 26 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2008. 
  5. ^ a ă “September 19–25, 2005 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  6. ^ a ă “May 15–21, 2006 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  7. ^ a ă “Artios Awards - 2006”. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  8. ^ “TV Summer School: How to Create and Run a Successful Sitcom”. E! Online. E! Entertainment. Ngày 6 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. let's write about our friends and the stupid stuff we did in New York. 
  9. ^ “Alyson Hannigan – "How I Met Your Mother" Sitcom – William S. Paley TV Fest”. Whedon. Ngày 28 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  10. ^ Ryan, Maureen (ngày 27 tháng 4 năm 2006). “Craig Thomas: 'Sitcoms used to be about something'. Chicago Tribune. Tribune Company. I’m like the Marshall character, I’ve been with my wife since freshman year of college. 
  11. ^ Aguilera, Leanne (ngày 3 tháng 2 năm 2014). “Jennifer Love Hewitt Turned Down How I Met Your Mother?! (Plus, Series Finale Secrets Revealed...)”. E! Online. E! Entertainment. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014. 
  12. ^ Stransky, Tanner (ngày 13 tháng 5 năm 2013). 'HIMYM' unveils the mother! The creators answer your burning questions”. Entertainment Weekly. Time Warner. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2013. 
  13. ^ Sullivan, Brian Ford (ngày 8 tháng 1 năm 2010). “Live at the Paley Center for Media: "How I Met Your Mother". The Futon Critic. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2012. 
  14. ^ Dransfeldt, Jeffrey (ngày 26 tháng 4 năm 2008). “Harris is enjoying Barney's adventures in How I Met Your Mother. Ventura County Star. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2008. 
  15. ^ Lowry, Brian (ngày 18 tháng 9 năm 2005). “Review: "How I Met Your Mother". Variety. Penske Business Media. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  16. ^ Gilbert, Matthew (ngày 6 tháng 2 năm 2006). “With work, 'How I Met Your Mother' could be the next 'Friends'. Boston.com. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  17. ^ a ă Bianco, Robert (ngày 19 tháng 9 năm 2005). 18 tháng 9 năm 2005-how-i-met-your-mother_x.htm “Laugh track back on track?”. USA Today. Gannett Company. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  18. ^ “How I Met Your Mother: Season 1”. Metacritic. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  19. ^ a ă Boedeker, Hal (ngày 18 tháng 9 năm 2005). “A comic oasis of new fall series”. The Orlando Sentinel. The Tribune Company. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  20. ^ Murray, Noel, Keith Phipps, and Scott Tobias (ngày 5 tháng 10 năm 2005). “The 2005 Fall TV Season, Part One”. The A.V. Club. The Onion. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  21. ^ Elfman, Doug (ngày 19 tháng 9 năm 2005). “If you can't stand bad sitcoms, hold out for Fox's 'Kitchen'. Chicago Sun-Times. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  22. ^ “The Unmarried and the Befuddled Are Still Good for Laughs”. The New York Times. Ngày 19 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  23. ^ McCollum, Charlie (ngày 17 tháng 9 năm 2005). “With Cast That Click, Sophisticated Writing, Network Sitcoms Get a New Lease on Laughs”. The San Jose Mercury News. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  24. ^ “How I Met Your Mother”. Academy of Television Arts & Sciences. ATAS. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  25. ^ “People's Choice Awards 2006”. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  26. ^ “How I Met Your Mother”. BBC. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  27. ^ “How I Met Your Mother”. CityTV. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  28. ^ “How I Met Your Mother”. Yahoo! Plus7. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  29. ^ “Releases for 'How I Met Your Mother'. TVShowsOnDVD.com. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  30. ^ Jones, Preston (ngày 8 tháng 12 năm 2006). “How I Met Your Mother: Season One”. Internet Brands. 
  31. ^ “How I Met Your Mother on CBS”. TV Guide. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013. 
  32. ^ “September 26–ngày 2 tháng 10 năm 2005 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  33. ^ “October 03–09, 2005 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  34. ^ “October 10–16, 2005 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  35. ^ “October 17–23, 2005 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  36. ^ “October 24–30, 2005 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  37. ^ “November 07–13, 2005 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  38. ^ “November 14–20, 2005 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  39. ^ “November 21–27, 2005 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  40. ^ “November 28–ngày 4 tháng 12 năm 2005 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  41. ^ “December 19–25, 2005 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  42. ^ “January 09–15, 2006 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  43. ^ “January 23–29, 2006 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  44. ^ “February 06–12, 2006 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  45. ^ “February 27–ngày 5 tháng 3 năm 2006 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  46. ^ “March 06–12, 2006 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  47. ^ “March 20–26, 2006 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  48. ^ “April 10–16, 2006 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  49. ^ “April 24–30, 2006 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  50. ^ “May 01–06, 2006 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  51. ^ “May 08–14, 2006 weekly program rankings”. ABC Television Group. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010.