Kim Hyun-joo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Kim Hyun-joo
Kim Hyun Joo Press for Miracle We Met 2018.jpg
Kim Hyun Joo năm 2018
Sinh24 tháng 4, 1977 (44 tuổi)
Goyang, Gyeonggi, Hàn Quốc
Quốc tịchHàn Quốc Hàn Quốc
Học vịĐại học Dankook – Điện ảnh và kịch nghệ
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động1996–nay
Đại lýYNK Entertainment[1]
Tác phẩm nổi bật
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
김현주
Hanja
金賢珠
Romaja quốc ngữKim Hyeon-ju
McCune–ReischauerKim Hyŏnju
Hán-ViệtKim Hiền Châu

Kim Hyun-joo (sinh ngày 24 tháng 4 năm 1977)[2] là một nữ diễn viên người Hàn Quốc. Cô được biết đến với vai chính trong các bộ phim truyền hình như Giày thủy tinh (2002), Cô Kim muốn làm triệu phú (2004), Đất (2004), Ước mơ lấp lánh (2011), Gia đình kỳ quặc (2014), Người tình của tôi (2015), Tình yêu diệu kỳ (2016), Phép màu đã cho ta gặp nhau (2018) và Người giám sát (2019).

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1996-2001: Khởi đầu và những thành công đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi học năm nhất trung học, Kim Hyun-joo đã đến các đài truyền hình để thử vai với mong muốn trở thành diễn viên truyền hình. Năm 1995, khi đang là học sinh cuối cấp 3, cô đã tham gia một cuộc thi tìm kiếm người mẫu trang bìa do một tạp chí tổ chức, nhưng bị loại. Tuy nhiên, khi người của tạp chí liên hệ lại với cô, họ hỏi cô: “Cô không phải là người mẫu trang bìa, nhưng cô có muốn làm người mẫu cho tiểu mục làm tóc hay góc trang điểm không?”. Cô đã đồng ý. Và kể từ đó, cô thử sức với vai trò người mẫu ảnh tuổi teen.[3]

Cô ra mắt làng giải trí lần đầu khi xuất hiện trong video ca nhạc minh hoạ cho ca khúc "One's Lifetime" của ca sĩ Kim Hyun-cheol năm 1996. Vai diễn đầu tiên của cô là một vai phụ trong phim truyền hình của đài MBC The Reason I Live vào năm 1997[3]. Dù là diễn viên mới vào nghề, nhưng cô đã lọt vào mắt xanh của các đạo diễn và nhận được vai nữ chính trong hai phim điện ảnh Nếu tuyết rơi vào đêm giáng sinh (1998) đóng cùng Park Yong-ha[4], và sau đó là Cánh hoa tình yêu (1999)[5] đóng cùng Song Seung-heon. Năm 1999 vai diễn trong phim truyền hình Thời thanh xuân (Springtime) cùng bạn diễn Jang Dong-gun là một bước ngoặt khi là đây là vai chính đáng chú ý đầu tiên của cô trên màn ảnh nhỏ. Cuối năm 1999, cô là một trong bốn diễn viên chính của bộ phim truyền hình Dưới ánh mặt trời (Into the Sunlight)[6]. Vào đầu năm 2000, cô góp mặt trong tập 7 trong bộ phim truyền hình 8 Câu chuyện tình yêu (8 Love Stories), series phim truyền hình mà mỗi tập là một câu chuyện tình yêu khác nhau, quy tụ dàn diễn viên triển vọng của Hàn Quốc thời bấy giờ.

Diễn xuất của cô sớm được ghi nhận bằng các giải thưởng không lâu sau đó. Các vai diễn chính trong phim Đức hạnh (Virtue) năm 2000 và Ở nhà cô ấy (Her House) năm 2001 mang về cho cô 2 giải thưởng Diễn viên nữ truyền hình xuất sắc của năm, lần lượt của đài SBS và MBC. Bộ phim truyền hình Thương gia (Sangdo) của cô (dựa trên tiểu thuyết của nhà văn Choi In-ho về nhà buôn nổi tiếng thế kỷ 19 Im Sang-ok) cũng nhận được nhiều tình cảm từ khán giả.[7]

2002-2005: Đột phá và nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Cô trở thành ngôi sao nổi tiếng vào năm 2002 khi thủ vai cô em gái trong bộ phim 40 tập của đài SBS Giày thuỷ tinh, kể về hai chị em xa cách khi còn nhỏ và vô tình chạm trán nhau khi trưởng thành. Bộ phim đã thành công vang dội với tỷ suất người xem trên 30%. Bộ phim cũng thành công ở Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Việt Nam. Năm 2003, cô tới Hồng Kông đóng cùng nam diễn viên/ca sĩ Đài Loan Ngô Kiến Hào trong bộ phim Thiếu niên A Hổ.

Bên cạnh việc xuất hiện trong các bộ phim truyền hình mang xu hướng hài kịch Cô Kim muốn làm triệu phú (2004), Lấy chồng triệu phú (2005) và phim điện ảnh Shinsukki Blues (2004), năm 2005, cô đóng vai nữ chính Choi Seo-hee trong bộ phim truyền hình Đất (The Land) chuyển thể từ tiểu thuyết nổi tiếng cùng tên của nữ tiểu thuyết gia Park Kyung-ni, miêu tả cuộc sống và tình yêu của nông dân và giới quý tộc Triều Tiên vào đầu thế kỷ 20, kéo dài từ thời thuộc địa của Nhật Bản đến khi bán đảo bị chia cắt.[8]

2007-2010: Hồi sinh sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, sau 2 năm tạm nghỉ đóng phim, cô trở lại với hình ảnh nhân vật nữ đáng thương khi vào vai nhân vật Park In-soon trong phim Nàng Insoon xinh đẹp (In-soon is pretty). Vai diễn cô gái đơn độc cố gắng tái hoà nhập với xã hội sau khi mãn hạn tù vì phạm tội giết người đã mang về cho cô giải nữ diễn viên xuất sắc nhất của đài KBS của năm. Năm 2009, cô lần đầu tiên vào vai luật sư trong phim Cộng sự (Partner) đóng cùng Lee Dong-wook. Năm 2009 cũng là năm cô nhận vai phụ sau nhiều năm chỉ đóng vai chính trong bộ phim truyền hình từng gây sốt tại một số nước Châu Á Vườn sao băng.[9]

Năm 2010 là một năm buồn của cô khi cô liên tiếp đón nhận cái chết của 3 người thân yêu: nam diễn viên Park Yong-ha, bạn thân của cô tự tử vào ngày 30 tháng 6; giám đốc công ty sản xuất phim hợp tác với cô trong phim The Land tự tử vào ngày 1 tháng 7 vì khó khăn về tài chính; và cha của cô là Kim Tae-beom qua đời vào ngày 7 tháng 7 sau một thời gian dài lâm bệnh[10]. Cô đã dành thời gian đến BangladeshPhilippines cho công việc thiện nguyện của mình với tư cách là đại sứ thiện chí cho tổ chức Good Neighbors, một tổ chức nhân đạo phi chính phủ của Hàn Quốc. Cô đã quyên góp số tiền phúng viếng từ đám tang của cha cô và một phần tiền bán cuốn sách về đan lát và may vá (sở thích của cô từ nhỏ) mang tên Hyun-joo's Handcrafted Story (2009) của cô cho tổ chức Good Neighbors, góp phần xây thư viện trong 11 trại trẻ mồ côi ở các khu ổ chuột ở thủ đô Dhaka. Cô đã chia sẻ: "Tôi thực sự đã trốn sang Bangladesh sau một loạt nỗi buồn xảy ra với cá nhân, nhưng tôi được an ủi bởi nụ cười của những đứa trẻ đang sống trong điều kiện tồi tệ này. Hành động chia sẻ đã tiếp thêm sức mạnh cho tôi để sống."

2011-2015: Ưa thích phim cuối tuần[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Hyun-joo tại buổi họp báo ra mắt phim Gia đình kỳ quặc năm 2014

Cô quay trở lại màn ảnh năm 2011 với dự án phim 54 tập Ước mơ lấp lánh. Cô toả sáng với nhân vật Han Jung-won, cô gái làm việc tại nhà xuất bản có tâm hồn thuần khiết, suy nghĩ tích cực trong cuộc sống, kiên định trong công việc. Màn trình diễn này đã giúp cô giành được giải nữ diễn viên xuất sắc nhất, hạng mục phim dài tập của đài MBC năm 2011. Cô cũng đóng vai chính trong phim ngắn Q&A, một bộ phim do Ủy ban Nhân quyền Quốc gia Hàn Quốc đặt hàng. Sau đó, trong phim truyền hình cuối tuần của đài SBS Mẹ ơi, con xin lỗi! (2012), cô vào vai một biên tập viên tạp chí thời trang với chỉ số IQ ở mức thiên tài, người cảm thấy xấu hổ trước người mẹ thiểu năng phát triển của mình.

Vai diễn ác nữ không có trong danh sách các nhân vật cô từng diễn xuất cho đến khi cô nhận lời vào vai Phế Quý nhân Triệu thị - nhân vật nổi tiếng ác độc trong lịch sử Hàn Quốc, trong bộ phim truyền hình cổ trang Cuộc chiến nội cung sản xuất năm 2013 của đài JTBC. Cô nói "Tôi rất vui mừng vì đã có cơ hội để thử một cái gì đó mới", các nhà phê bình ca ngợi tài hoá thân của cô, khi nhân vật do cô thủ vai diễn tiến từ một cô gái trẻ ngây thơ thành một thê thiếp hoàng gia đầy tham vọng, người dùng sắc đẹp và mưu kế của mình để thoả mãn cơn khát quyền lực. Đây cũng là lần đầu tiên cô tham gia một bộ phim của đài truyền hình cáp tư nhân.

Năm 2014, cô nhận vai diễn thư ký Cha Kang-shim, cô chị cả ngại kết hôn vì mất niềm tin vào tình yêu trong bộ phim cuối tuần của đài KBS năm 2014 Gia đình kỳ quặc. Bộ phim 53 tập với tỷ suất người xem trên 40% đã mang lại cho cô vai diễn nữ diễn viên xuất sắc nhất của đài KBS tại lễ trao giải KBS Drama Awards năm 2014.

Năm 2015, cô đóng vai trong bộ phim mang đề tài ngoại tình Người tình của tôi, cô tái hợp diễn viên Ji Jin-hee, bạn diễn chung của cô trong phim Cô Kim muốn làm triệu phú (2004). Với khả năng diễn xuất cùng một lúc vào hai vai (cặp song sinh Do Hae-gang và Dokgo Yong-gi) ấn tượng, cô đã giành được các giải thưởng tại Lễ trao giải của đài SBS năm đó.

2016-nay: Tiếp tục đa dạng vai diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Kim tại buổi đọc kịch bản phim Phép màu đã cho ta gặp nhau ngày 12/2/2018

Các phim gần đây cô hoá thân vào nhiều loại vai diễn, năm 2016 cô hợp tác với đài JTBC một lần nữa khi vào vai chính trong phim Fantastic, vào vai một nhà biên kịch phim truyền hình bị bệnh nan y. Trong dự án phim lãng mạn, mang yếu tố viễn tưởng kỳ ảo của đài KBS mang tên Miracle that We Met (2018) cô đóng vai người vợ có chồng bị mượn thân xác. Trong phim Watcher (2019) của đài OCN vào vai nữ luật sư mạnh mẽ trong phim thể loại điều tra, hình sự.

Hầu như năm nào cô cũng góp mặt trong một bộ phim và làm nên tên tuổi của mình với tư cách là một diễn viên làm việc chăm chỉ, đa dạng trong diễn xuất, đặc biệt ở mảng truyền hình. Nhiều tác phẩm đạt tỷ suất người xem cao tại Hàn Quốc.

Danh mục phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt Tên tiếng Hàn Vai diễn Kênh Chú thích Số tập Bạn diễn
1997 Reason I Live For 내가 사는 이유 Chun Shim MBC Vai phụ
Couple Jung Hee-ryeong Khách mời
Ready Go! 레디 고! Na Min Jung Vai phụ
1998 Love You! Love You! 사랑해 사랑해 Lee Joo Hee SBS Vai thứ chính
Three Guys and Three Girls 남자셋 여자셋 Kim Hyun Joo MBC Khách mời; tập 117, 133, 205 (207), 212 (214), 493
I Don't Know Anything But Love 사랑밖엔 난 몰라 Baek Young Gu
MBC Best Theater "Jeondeungsa" MBC 베스트극장 - 전등사 Hyo Im
1999 Springtime Thời Thanh Xuân 청춘 Cha Won Young MBC Vai chính Jang Dong-gun
The Last War 마지막 전쟁 Han Ji Eun Vai thứ chính
Into The Sunlight Dưới Ánh Mặt Trời 햇빛속으로 Lee Yun Hee Vai chính Cha Tae-Hyun
2000 Love Story - Ep.7: Insomnia, Manual and Orange Juice 러브스토리 - 불면증, 매뉴얼 그리고 오렌지 주스 Seo Young SBS Vai chính Kwon Oh-Jung
Virtue Đức 덕이 Jung Kwi Duk Vai chính 74
Medical Center 메디컬센터 Soo Kyung Khách mời, Tập 29
2001 Her House Ở Nhà Cô Ấy (a.k.a Nhà Nàng) 그 여자네 집 Park Young Chae MBC Vai thứ chính 50 Lee Seo-Jin
Sangdo, Merchants of Joseon Thương Gia 상도 Park Da Nyung Vai chính 50 Lee Jae-ryong
2002 Glass Slippers Giày Thuỷ Tinh 유리구두 Lee Sun Woo/Kim Yoon Hee SBS Vai chính 40 So Ji-sub, Han Jae-suk
2004 Miss Kim's Million Dollar Quest Cô Kim Muốn Làm Triệu Phú 파란만장 미스김 10억 만들기 Kim Eun Jae SBS Vai chính 16 Ji Jin-hee
The Land Đất 토지 Choi Seo Hee Vai chính 52 Yu Jun-Sang
2005 Marrying A Millionaire Lấy Chồng Triệu Phú 백만장자와 결혼하기 Han Eun Young SBS Vai chính 16 Go Soo
2007 In Soon Is Pretty Nàng In Soon Xinh Đẹp 인순이는 예쁘다 Park In Soon KBS Vai chính 16 Kim Min-joon
2009 Boys Over Flowers Vườn Sao Băng 꽃보다 남자 Gu Joon Hee KBS Khách mời
Partner Cộng Sự 파트너 Kang Eun Ho Vai chính 16 Lee Dong-Wook
2011 Twinkle Twinkle Ước Mơ Lấp Lánh (a.k.a Trên Đỉnh Danh Vọng) 반짝반짝 빛나는 Han Jung Won MBC Vai chính 54 Kim Suk-hoon
2012 Dummy Mommy Mẹ Ơi, Con Xin Lỗi 바보엄마 Kim Young Joo SBS Vai chính 20
2013 Blooded Palace: The War Of Flowers Cuộc Chiến Nội Cung 궁중잔혹사 꽃들의 전쟁 Jo Yam Jeon JTBC Vai chính 50 Lee Deok-hwa
2014 Can We Fall In Love, Again? 우리가 사랑할 수 있을까 Kim Hyun Joo JTBC Khách mời; tập 13, 14
What's With This Family? Gia Đình Kỳ Quặc (a.k.a. Nhà Mình Có Biến) 가족끼리 왜 이래 Cha Kang Shim KBS Vai chính 53 Kim Sang-kyung
2015 I Have A Lover Người Tình Của Tôi (a.k.a. Yêu Anh Lần Nữa) 애인 있어요 Do Hae Kang (Dokgo On Gi)/Dokgo Yong Gi SBS Vai chính 50 Ji Jin-hee,Lee Kyu-han
2016 Fantastic Tình Yêu Diệu Kỳ 판타스틱 Lee So Hye JTBC Vai chính 16 Joo Sang-wook
2018 Miracle That We Met Phép Màu Đã Cho Ta Gặp Nhau 우리가 만난 기적 Sun Hye Jin KBS Vai chính 18 Kim Myung-min
2019 Watcher Người Giám Sát 왓쳐 Han Tae Joo OCN Vai chính 16 Han Suk-kyu
2021 UndercoverPhim chưa công chiếu 언더커버 Choi Yun Soo JTBC Vai chính 16 Ji Jin-hee
HellboundPhim chưa công chiếu 지옥 Min Hye Jin Netflix TBA 6
Phim chưa công chiếu Ký hiệu phim chưa công chiếu

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa phim tiếng Anh Tựa phim tiếng Việt Tên tiếng Hàn Vai diễn Bạn diễn
1998 If It Snows On Christmas Nếu tuyết rơi vào đêm giáng sinh 크리스마스에 눈이 내리면 Lee Song Hee Park Yong Ha, Lee Eun Joo
1999 Calla Cánh hoa tình yêu 카라 Yoon Soo Jin Kim Hee Sun, Song Seung Hoon
2003 Star Runner Thiếu niên A Hổ (a.k.a. Tình yêu và sàn đấu) 스타러너 Kim Mi Kyo Ngô Kiến Hào, Mạc Thiếu Thông, Đàm Tuấn Ngạn
2004 Shinsukki Blues 신석기 블루스 Seo Jin Young Lee Sung Jae
2011 If You Were Me 5: Questions & Answers 시선 너머  -  백문백답 Jung Hee Joo Kim Jin Geun, Yoo Ha Joon

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Dẫn chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đài Tên chương trình Tên tiếng Hàn Ghi chú
1997 MBC Scoop! Entertainment City 특종! 연예시티 VJ
MBC Popular Song Best 50 인기가요 베스트 50 VJ
KBS Saturday Power Start 토요일 전원 출발 MC
KBS 2FM Gwangjang Music with Gung Sun-young 궁선영의 가요광장  -  사랑밖엔 난 몰라 Mục giới thiệu phim "I Don't Know Anything But Love"
1998 KBS Super TV Enjoy Sunday 슈퍼TV 일요일은 즐거워 MC
1999 MBC Sunday Night 일요일 일요일 밤에 MC
Section TV Entertainment 섹션TV 연예통신 MC, với Seo Kyung Suk
MBC FM FM Dating with Kim Hyun Joo 김현주의 FM데이트 DJ
MBC MBC Drama Awards 연기대상 với Shin Dong Ho
2000 Mnet Mnet KM Music Festival 뮤직비디오 페스티벌 MC
MBC And e-Wonderful World 와 e-멋진 세상 MC
2005 SBS SBS Drama Awards 연기대상 với Park Sang Won
2009 MBC FM Music Village with Kim Hyun Joo DJ
MBC ECO Canada by Kim Hyun Joo
2010 SBS SBS Hope TV 희망TV SBS Host
2012
2013 KBS Road for Hope - Ep.3 희망로드 대장정 Tình nguyện viên
MBC World Changing Quiz Show 세바퀴 MC đặc biệt, Tập. 211, 212
C'est si bon - Merry Christmas 메리크리스마스 세시봉 MC đặc biệt
2014 MBC Musical Journey to Yesterday 음악여행 예스터데이 MC
2016 MBC Real Men 진짜 사나이 Người kể chuyện, Tập 59-63 (154-158)
2017 SBS My Little Old Boy 미운 우리 새끼 MC đặc biệt, Tập 58,59

Chương trình tạp kỹ, giải trí và Game show[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Tên chương trình Tên tiếng Hàn Kênh Ghi chú
1998 6/2 Love TV - Legend #28 TV는 사랑을 싣고 - 레전드 #28 KBS Tái ngộ "tình đầu" mẫu giáo
9/8 Don't look back - The Maze of Fear Kim Hyun Joo! KBS Trải nghiệm sợ hãi "Đừng quay người lại!" - Mê cung ma quái KHJ!
2004 20/12 Yashimmanman 야심만만 SBS Tập 91, với Lee Sung Jae, g.o.d
2007 Guerilla Date with Kim Hyun Joo (Entertainment Weekly) 섹션 TV 연예통신 KBS
6/11 상상더하기 Tập 154
2011 1/6 Golden Fishery 라디오스타 - 황금어장 MBC Tập 234
20/12, 27/12 Strong Heart 강심장 SBS Tập 109, 110
2012 14/6 Talk Show Taxi 현장토크쇼 택시 tvN Tập 243
2014 20/12 Guerilla Date with Kim Hyun Joo (Entertainment Weekly) 섹션 TV 연예통신 Hẹn hò du kích với KHJ 2014
2015 17/3 Roomate 룸메이트 SBS Tập 43
8/5, 9/5 Lady Action 레이디 액션 KBS Tập 1, 2
2016 29/8 Abnormal Summit 비정상회담 JTBC Tập 113
2017 15/10, 22/10 My Little Old Boy 미운 우리 새끼 SBS Tập 58, 59

Chương trình phỏng vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Tên chương trình Tên tiếng Hàn Kênh Ghi chú
2005 16/11 Midnight TV Entertainment 한밤의 TV연예 SBS với Go Soo
2008 5/3 Tập 164
2009 27/6 Entertainment Weekly 연예가중계 KBS Họp báo ra mắt phim Cộng sự
2010 4/1 Showbiz Extra Arirang TV
2011 13/2 Section TV Entertainment 섹션 TV 연예통신 MBC Họp báo phim Ước mơ lấp lánh
2/4
30/11 Section TV Entertainment 섹션 TV 연예통신 Rising Star
2012 14/3 Midnight TV Entertainment 한밤의 TV연예 SBS Dummy Mommy BTS
2014 26/1 Section TV Entertainment 섹션 TV 연예통신 MBC Star Ting
16/8 Entertainment Weekly 연예가중계 KBS Phỏng vấn diễn viên Gia đình kỳ quặc
4/10 Phỏng vấn các cặp đôi phim Gia đình kỳ quặc
21/12 Chosun Media với Kim Sang Kyung
2015 14/2 Entertainment Weekly 연예가중계 KBS liên hoan đóng máy phim Gia đình kỳ quặc
8/3 Section TV Entertainment 섹션 TV 연예통신 MBC KHJ kể về tình yêu với nhóm cá sĩ thần tượng
16/11 Midnight TV Entertainment 한밤의 TV연예 SBS Các cảnh phim Người tình của tôi

Chương trình thiện nguyện/giáo dục công ích[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày phát sóng Kênh Tên chương trình Tên tiếng Hàn Ghi chú
2000 17/1 KBS Trải nghiệm cuộc sống lao động 체험 삶의 현장 - 노동맨 #40 Trải nghiệm thử thách "Một ngày làm mẹ" ở trại trẻ mồ côi, phát sóng ngày 17/1/2000
2009 MBC Life ECO Canada by Kim Hyun Joo Chương trình giáo dục sống "xanh" của đài MBC
tvN Đôi cánh 22 tuổi Người dẫn chuyện, Tập 4
2010 tvN World Special Love Tập 1, 2. Chuyến đi tình nguyện tới Phillipines (chuyến đi tháng 1/2010)
4/9 KBS Quyên tiền cho Good Neighbors Kể lại chuyến đi tình nguyện Bangladesh hồi tháng 7/2010
2011 5/12, 8/12 Channel A You're My Destiny 너는 내 운명 Người dẫn chuyện,
2012 17/11 SBS SBS Hope TV 희망TV SBS Tập 35. Chuyến đi tình nguyện tới Tanzania (cũng là MC)
21/11 MBC Human Love - Mother's love will never stop 휴먼다큐멘터리 사랑  -  엄마는 멈추지 않는다 Người dẫn chuyện, Tập 1
2013 KBS Road for Hope Tập 3. Chuyến đi tình nguyện tới Cộng hoà Chad
2015 Good Neighbors Earthquake in Nepal Kim Hyun Joo in Nepal
2017 9/6 SBS SBS Hope TV 희망TV SBS Tập 112 chuyến đi tình nguyện ở Cộng hoà Niger
2019 25/2 MBC Hồ sơ ký ức - Kim Maria trong trí nhớ Kim Hyun Joo 기억록 - 김현주, 김마리아를 기억하여 기록하다 Loạt chương trình kỷ niệm 100 năm kháng chiến chống Nhật của người Triều Tiên, giới thiệu về nhân vật Kim Maria qua lời dẫn của Kim Hyun Joo

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa tiếng Anh Tựa tiếng Hàn Tác giả Ngày phát hành Nhà xuất bản IBSN
2009 Hyun-joo's Handcrafted Story 현주의 손으로 짓는 이야기 Kim Hyun-joo 20/12/2009 살림LIFE 9788952213143

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Video ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên MV Tên tiếng Hàn Ca sĩ Ghi chú
1996 One's Lifetime 일생을 Kim Hyun Chul
1996 The Day Was Beautiful 그때가 좋았어 Seo Ji Won
1997 Entreaty 애원 Lee Seung Hwan với Jang Hyuk
1998 Now 이젠 Yuno
1999 To The Bride 신부에게 Yurisangja
2001 Already One Year 벌써1년 Brown Eyes với Trương Chấn, Lee Beom Soo, Jung Eun Pyo
2002 Little By Little 점점 Brown Eyes với Trương Chấn, Lee Beom Soo
2004 Parting Was Far Away 이별은 멀었죠 Han Kyung Il

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Tên tiếng Hàn Nghệ sĩ Ghi chú
2003 Sad Fate 슬픈인연 Kim Hyun Joo Trong album "In The Name Of Love" (사랑의 이름으로 - Nhân danh tình yêu) được phát hành ngày 29/11/2003
2009 Promise 약속 Kim Hyun-joo OST phim Cộng sự (Partner)
2012 Forgetfulness Kim Hyun-joo feat. PK Heman đĩa đơn


Các hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Đại sứ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm Công việc Hoạt động
2010 Đại sứ thiện chí tổ chức từ thiện phi lợi nhuận Good Neigbours [11]
  • 25/07/2010 - 02/08/2010: Chương trình xây thư viện cho trẻ em mồ côi ở khu ổ chuột ở Dhaka, Bangladesh[12]
  • 30/9/2013-10/10/2013: Chuyến đi giúp đỡ trẻ em nghèo ở Cộng hoà Chad, chuyến đi có ghi hình thuộc chương trình Road to Hope, của đài KBS (phối hợp với tổ chức Good Neigbours)[13]
  • 11/5/2015 - 18/5/2015: Cùng đoàn tình nguyện của Good Neigbours tới cứu trợ nạn nhân động đất ở Nepal[14][15]
2010 Đại sứ chiến dịch "Pink Ribbon" [16]
  • Chụp ảnh bán khoả thân cho triển lãm ảnh của chiến dịch Dải Ruy-băng Hồng (Pink Ribbon), nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh ung thư vú ở phụ nữ [17]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Lễ trao giải Giải thưởng Hạng mục Tác phẩm đề cử Kết quả
1998 MBC Drama Awards Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất I Don't Know Anything But Love Đoạt giải
SBS Drama Awards Love You! Love You! Đoạt giải
1999 MBC Drama Awards Nữ diễn viên xuất sắc The Last War, Dưới Ánh Mặt Trời Đề cử
2000 SBS Drama Awards Virtue, Love Story Đoạt giải
2001 MBC Drama Awards Nữ diễn viên được yêu thích nhất Ở Nhà Cô Ấy Đề cử
Nữ diễn viên xuất sắc Đoạt giải
2002 MBC Drama Awards Nữ diễn viên được yêu thích nhất Thương Gia Đề cử
Nữ diễn viên xuất sắc nhất Đề cử
SBS Drama Awards Top 10 ngôi sao Giày Thủy Tinh Đoạt giải
Nữ diễn viên được yêu thích nhất (SBSi Award) Đoạt giải
Nữ diễn viên xuất sắc Kịch bản đặc biệt Đoạt giải
2004 SBS Drama Awards Top 10 ngôi sao Cô Kim Muốn Làm Triệu Phú Đoạt giải
Nữ diễn viên xuất sắc Kịch bản đặc biệt Đoạt giải
2005 SBS Drama Awards Top 10 ngôi sao The Land, Lấy Chồng Triẹu Phú Đoạt giải
Nữ diễn viên được yêu thích nhất Đoạt giải
Nữ diễn viên xuất sắc Phim dài tập Đề cử
Nữ diễn viên xuất sắc nhất Đề cử
Grand Prize Đề cử
41st Baeksang Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Phim truyền hình The Land Đề cử
2007 KBS Drama Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Nàng In-Soon Xinh Đẹp Đoạt giải
43rd Baeksang Awards Phim truyền hình Đề cử
2011 MBC Drama Awards Nữ diễn viên được yêu thích nhất Ước Mơ Lấp Lánh Đề cử
Cặp đôi được yêu thích nhất (với Kim Suk Hoon) Đề cử
Nữ diễn viên xuất sắc nhất Phim dài tập Đoạt giải
4th Korea Drama Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Đề cử
48th Baeksang Awards Phim truyền hình Đề cử
2012 5th Korea Drama Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Mẹ Ơi, Con Xin Lỗi! Đề cử
2013 2nd APAN Star Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Cuộc Chiến Nội Cung Đề cử
2014 KBS Drama Awards Cặp đôi được yêu thích nhất (với Kim Sang Kyung) Gia Đình Kỳ Quặc Đoạt giải
Nữ diễn viên xuất sắc Phim dài tập Đề cử
Nữ diễn viên xuất sắc nhất Đoạt giải
Grand Prize Đề cử
3rd APAN Star Awards Nữ diễn viên xuất sắc Phim truyền hình dài tập Đề cử
2015 4th APAN Star Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Phim truyền hình dài tập Người Tình Của Tôi Đoạt giải
23rd Korea Culture Entertainment Awards Đoạt giải
SBS Drama Awards Top 10 ngôi sao Đoạt giải
Cặp đôi được yêu thích nhất (với Ji Jin Hee) Đoạt giải
Diễn viên được yêu thích nhất Đoạt giải
Nữ diễn viên xuất sắc nhất Phim dài tập Đoạt giải
Grand Prize Đề cử
OBS Entertainment News Giải Hot Icon Đoạt giải
2016 52nd Baeksang Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Phim truyền hình Đề cử
9th Korea Drama Awards Đề cử
2018 KBS Drama Awards Diễn viên được yêu thích nhất Phép Màu Đã Cho Ta Gặp Nhau Đề cử
Cặp đôi được yêu thích nhất (với Kim Myung Min) Đề cử
Nữ diễn viên xuất sắc Phim có độ dài trung bình Đề cử
Nữ diễn viên xuất sắc nhất Đề cử
Grand Prize Đề cử
2019 OCN Awards The Best Case Solver Award Người Giám Sát Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “김현주, YNK 이적 확정..임수정·신혜선 한식구 됐다”. Star News (bằng tiếng Hàn). ngày 21 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2017.
  2. ^ 룸메이트 김현주, 실제 1977년생인데 78년생으로 활동…나이는?. Zum News (bằng tiếng Hàn). ngày 18 tháng 3 năm 2015.
  3. ^ a ă “Minh tinh Kim Hyun Joo: Quý cô độc thân sáng giá xứ Hàn”.
  4. ^ “KmDB - If it Snows on Christmas”.
  5. ^ “KMDb - 한국영화데이터베이스”.
  6. ^ “[방송가] MBC 새 미니시리즈 `햇빛 속으로'.
  7. ^ 'Thương gia' tay trắng làm giàu nơi xứ người”.
  8. ^ “Phim mới của Kim Hyun Joo lại thắng”.
  9. ^ “Kim Hyun Joo cũng gia nhập "Hana Yori Dango".
  10. ^ “Kim Hyun Joo bơ phờ trong tang lễ cha”. 9 tháng 7 năm 2010.
  11. ^ “History 2010 - Good Neighbors has loved our neighbors”.
  12. ^ “Kim Hyun-joo Finds Relief from Personal Grief in Charity”.
  13. ^ “2013 Road for Hope | 2013 희망로드 대장정: Ep.3 with Kim HyunJoo in Chad - KBS Word Youtube channel”.
  14. ^ “Kim Hyun-joo flies to Nepal for quake relief”.
  15. ^ “Actress Kim Hyun Joo safely returns to Korea from volunteer work in Nepal”.
  16. ^ “여성의 가슴을 지키는 핑크리본 캠페인 '10주년'.
  17. ^ “Khoả thân vì điều tốt”.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]