Lý Phương Tử
| Lý Phương Tử | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Vương thế tử phi của Triều Tiên | |||||||||
| 24 tháng 4 năm 1926 – 1 tháng 5 năm 1970 | |||||||||
| Tiền nhiệm | Thuần Trinh Hiếu Hoàng hậu (với tư cách Hoàng thái tử phi của Đại Hàn Đế Quốc) | ||||||||
| Kế nhiệm | Julia Mullock | ||||||||
| Thông tin chung | |||||||||
| Sinh | 4 tháng 11 năm 1901 Tokyo, Nhật Bản | ||||||||
| Mất | 30 tháng 4 năm 1989 (87 tuổi) Nhạc Thiện trai, Xương Đức cung, Hán Thành, Hàn Quốc | ||||||||
| An táng | Anh viên (英園) thuộc Hồng Dụ lăng Nam Dương Châu thị | ||||||||
| Phối ngẫu | Ý Mẫn Thái tử Lý Ngân (28 tháng 4 năm 1920 – 1 tháng 5 năm 1970) | ||||||||
| Hậu duệ | Lý Tấn Lý Cửu | ||||||||
| |||||||||
| Hoàng tộc | Nhà Nashimoto của Nhật Bản Nhà Lý của Triều Tiên (hôn nhân) | ||||||||
| Thân phụ | Thân vương Nashimoto Morimasa | ||||||||
| Thân mẫu | Bá tước Nabeshima Itsuko | ||||||||
| Lý Phương Tử | |||||||
| Tên tiếng Nhật | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Kanji | 李方子 | ||||||
| |||||||
| Tên tiếng Triều Tiên | |||||||
| Hangul | 이방자 | ||||||
| Hanja | 李方子 | ||||||
| |||||||
| Lê Bản cung Phương Tử Nữ vương | |||||
| Tên tiếng Nhật | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Kanji | 梨本宮 方子女王 | ||||
| |||||
| Tên tiếng Triều Tiên | |||||
| Hangul | 나시모토노미야 마사코 여왕 | ||||
| Hanja | 梨本宮 方子女王 | ||||
- Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Yi.
Lý Phương Tử, Nữ vương Nashimoto Masako hay Ý Mẫn Hoàng thái tử phi của Triều Tiên (Hangul: 이방자 Yi Bang-ja, tiếng Nhật: 李方子 Ri Masako) (4 tháng 11 năm 1901 – 30 tháng 4 năm 1989) là vợ của Anh Thân vương Lý Ngân nhà Triều Tiên. Bà và chồng theo lý sẽ trở thành Hoàng hậu và Hoàng đế của Đế quốc Đại Hàn nếu bán đảo Triều Tiên không bị sáp nhập vào Đế quốc Nhật Bản năm 1910.
Thiếu thời
[sửa | sửa mã nguồn]Bà vốn là một Nữ vương, con gái lớn của Thân vương Nashimoto Morimasa của Nhật Bản - con trai thứ tư của Thân vương Kuni Asahiko và vợ là nữ Bá tước Itsuko (con gái của Hầu tước Naohiro Nabeshima).
Gia quyến
[sửa | sửa mã nguồn]Nữ vương Masako là ứng cử viên sáng giá để trở thành vợ tương lai của Thái tử Nhật Bản Hirohito, sau này là Thiên hoàng Chiêu Hoà. Những ứng viên khác bao gồm Nữ vương Kuni Nagako (sau này trở thành Hoàng hậu Hương Thuần) và nữ Khanh tước Tokiko Ichijō. Do nghi ngờ bị vô sinh và ảnh hưởng chính trị yếu ớt của gia đình nên bà sớm bị loại. Tuy nhiên, Nữ vương Masako thay vào đó đã được chọn để trở thành vợ của Lý vương Thế tử của Triều Tiên, tức Anh Thân vương Lý Ngân, người đang bị chính phủ Nhật Bản quản thúc dưới danh nghĩa đi du học nước ngoài vào năm 1916. Vốn ban đầu, Mẫn Giáp Hoàn (민갑완; 閔甲完, Min Gap-hwan) là cháu họ xa trong tộc Ly Hưng Mẫn thị của Minh Thành Hoàng hậu, được chọn trở thành chính thất cho Anh Thân vương, và hai người cũng đã đính hôn. Tuy nhiên, hôn sự giữa Lý Ngân và Mẫn Giáp Hoàn về sau này đã bị hủy vì nhiều lý do khác nhau. Đám cưới của họ được tổ chức vào ngày 28 tháng 4 năm 1920 tại cung điện của vua Triều Tiên ở Tokyo. Khi đó, Nữ vương Masako vẫn đang là học sinh. Tước hiệu mới của bà sau khi kết hôn được chuyển thành "Phương Tử, Lý Vương thế tử phi của Triều Tiên". Mặc dù được chẩn đoán có khả năng bị vô sinh, nhưng cuối cùng, bà vẫn hạ sinh được Hoàng tử Lý Tấn vào ngày 18 tháng 8 năm 1921. Tuy nhiên, Hoàng tử đột ngột qua đời khi mới 8 tháng tuổi tại Thạch Tạo điện (石造殿) thuộc Đức Thọ cung trong chuyến đi thăm Triều Tiên cùng cha mẹ vào ngày 11 tháng 5 năm 1922, làm dấy lên giả thuyết rằng đứa trẻ đã bị đầu độc. Tang lễ được cử hành vào ngày 17 tháng 5 năm 1922 và được chôn cất tại Sùng Nhân viên (崇仁園), đối diện với Vĩnh Huy viên (永徽園) là nơi chôn cất của Thuần Hiến Hoàng quý phi Nghiêm thị, mẹ của Anh Thân vương.
Ngày 24 tháng 4 năm 1926, Thế tử phi Phương Tử chính thức tiếp nhận danh hiệu "Xương Đức cung Lý Vương phi" khi Lý Vương, tức Đại Hàn Thuần Tông, anh trai của Lý Vương thế tử, qua đời. Thế tử trở thành "Lý Vương" của Triều Tiên (tước vị bị giảm từ Hoàng đế xuống thành Vương sau Điều ước sáp nhập Triều Tiên vào Nhật Bản). Vì chồng bà trở thành Xương Đức cung Lý Vương đời kế tiếp, vì vậy bà cũng trở thành "Phương Tử, Xương Đức cung Lý Vương phi của Triều Tiên". Ngày 29 tháng 12 năm 1931, bà sinh hạ Hoàng nam thứ hai, Hoàng tử Lý Cửu.
Cuộc sống sau chiến tranh
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, toàn bộ danh hiệu Hoàng gia và Quý tộc của Triều Tiên đều bị chính quyền quân sự Hoa Kỳ bãi bỏ. Tổng thống Hàn Quốc Lý Thừa Vãn đã không chấp nhận cho gia đình Anh Thân vương trở về cố hương bởi vì lo ngại ảnh hưởng của họ, cộng thêm hiến pháp Nhật Bản tiến hành đổi mới, Lý vương gia chính thức bị mất thân phận hoàng thất và cũng xóa bỏ hộ tịch Nhật Bản, vì thế họ trở thành những công dân Hàn Quốc bình thường sinh sống tại Nhật Bản. Tháng 11 năm 1963, Tổng thống Park Chung-hee đã cho phép Thái tử phi Phương Tử và gia đình được trở lại Hàn Quốc và sinh sống tại Xương Đức cung ở ngoại ô Seoul cùng chị dâu Doãn Đại phi và em gái Đức Huệ Ông chúa. Tuy nhiên, thời gian này, Thái tử Lý Ngân đang hôn mê do căn bệnh nghẽn mạch máu não và được chuyển đến bệnh viện Seoul Sungmo để chữa trị. Bảy năm sau ngày trở về tổ quốc, Thái tử Lý Ngân qua đời vào ngày 1 tháng 5 năm 1970 tại Nhạc Thiện trai, Xương Đức cung, Seoul. Sau khi Thái tử qua đời, Thái tử phi Phương Tử đã cống hiến cuộc đời của mình vào sự nghiệp giáo dục cho những người khuyết tật. Bà đã thành công trở thành chủ tịch của nhiều uỷ ban như Ủy ban tưởng niệm Ý Mẫn Thái tử, và xây dựng Minh Huy Viên (明暉園; Myeonghwi-won) - một dưỡng trí viện dành cho những bệnh nhân câm điếc và bại liệt bẩm sinh. Bà đồng thời cũng đã thành lập hai trường Từ Huệ và Minh Huy dành cho việc giáo dục người khuyết tật. Bà được vinh danh là "Bà mẹ của người khuyết tật ở Hàn Quốc". Dù cho làn sóng bài Nhật Bản lúc này đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp Hàn Quốc và bản thân là người Nhật, nhưng bà vẫn được ca ngợi.
Qua đời
[sửa | sửa mã nguồn]Thái tử phi Phương Tử qua đời vào ngày 30 tháng 4 năm 1989, hưởng thọ 87 tuổi, ở Nhạc Thiện trai, Xương Đức cung sau một thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư. Lễ tang của bà được tổ chức long trọng theo nghi thức dành cho Hoàng thái tử phi với sự tham gia của Thân vương Takahito và Thân vương phi Yuriko của Nhật Bản. Bà được chôn cất cạnh chồng là Ý Mẫn Hoàng thái tử ở Anh viên (英園), nằm ở phía Tây của Hồng lăng (洪陵)[1], thuộc cụm Hồng Dụ lăng (洪裕陵)[2], Nam Dương châu, gần thủ đô Seoul. Bà được Toàn Châu Lý thị đại đồng tông ước viện (全州李氏大同宗約院) dâng thụy hiệu đầy đủ là "Hiển Đức Trinh Mục Ôn Tĩnh Từ Hành phi" (顯德貞穆溫靖慈行妃), tuy nhiên bà thường được gọi là "Ý Mẫn Hoàng thái tử phi" (懿愍皇太子妃) theo thụy của chồng. Hai vợ chồng bà cùng được thờ trong Vĩnh Ninh điện (永寧殿) thuộc Tông miếu.
Cuốn tự bạch The World is One: Princess Yi Pangja's Autobiography đã được xuất bản, kể về cuộc đời đầy gian khổ của bà và gia đình tại Nhật Bản.
Một vài thành viên khác của gia đình Nashimoto đã đến thăm Seoul vào tháng 10 năm 2008 để bày tỏ sự tôn kính đối với bà nhiều năm sau khi mất. Dù Thái tử phi không còn nữa nhưng dòng họ Nashimoto hiện nay vẫn tiếp tục ủng hộ và đóng góp vào các quỹ từ thiện để giúp đỡ cho những người khuyết tật ở Hàn Quốc.
Hậu duệ
[sửa | sửa mã nguồn]- Nguyên tôn Lý Tấn (tiếng Hàn: 이진; Hanja: 李晋; Romaja: I Jin) (18 tháng 8 năm 1921 – 11 tháng 5 năm 1922). Hoàng tử đã qua đời đột ngột khi đi thăm Triều Tiên cùng cha mẹ ngày 11 tháng 5 năm 1922, làm dấy lên giả thuyết đã bị đầu độc. Tang lễ được cử hành ngày 17 tháng 5 năm 1922 và được chôn cất ở Triều Tiên. Không có hậu duệ.
- Hoài Ẩn Hoàng thế tôn Lý Cửu (tiếng Hàn: 이구; Hanja: 李玖; Romaja: I Gu) (29 tháng 12 năm 1931 – 16 tháng 7 năm 2005). Hoàng tử trở thành người đứng đầu thứ 29 của gia tộc Hoàng gia Triều Tiên sau cái chết của cha mình. Sau mất được Tông ước sở bàn nghị định thụy, tôn xưng "Từ Nhân Ôn Dụ Đức Tính Thuần Túy Hoài Ẩn Hoàng thế tôn" 慈仁溫裕德性純粹懷隱皇世孫, gọi tắt "Hoàng thế tôn" (皇世孫; 황세손), an táng ở Hoài Nhân viên (懷仁園; 회인원). Không có hậu duệ, nhận Lý Nguyên (李源; 이원; Yi Won) làm con thừa tự, hiện đang là tộc trưởng của Toàn Châu Lý thị.
Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]- Phương Tử Nữ vương của Lê Bản cung (1901–1920)
- Phương Tử, Lý Vương thế tử phi của Triều Tiên (1920–1989)
- Phương Tử, Xương Đức cung Lý Vương phi của Triều Tiên (1926–1945)
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Lăng của Đại Hàn Cao Tông và Minh Thành Hoàng hậu.
- ↑ Gồm Hồng lăng của Đại Hàn Cao Tông và Minh Thành Hoàng hậu, cùng Dụ lăng của Đại Hàn Thuần Tông và hai người vợ là Thuần Minh Hiếu Hoàng hậu và Thuần Trinh Hiếu Hoàng hậu.