Ngô Đình Khả

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ngô Đình Khả (1850–1925) là một quan đại thần nhà Nguyễn. Ông được biết đến như một đại thần đã cộng tác với Pháp để đàn áp cuộc khởi nghĩa chống Pháp do Phan Đình Phùng lãnh đạo, về sau lại phản đối việc chính quyền thực dân Pháp truất ngôi và lưu đày vua Thành Thái. Ngoài ra, ông còn là thân sinh của Ngô Đình Diệm, Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Micaen Ngô Đình Khả quê ở làng Đại Phong (tên nôm là Kẻ Đợi), nay thuộc xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Gia đình ông theo đạo Công giáo, thuộc xứ Phủ Cam tại Huế; cha là Giacôbê Ngô Đình Niêm (Ngô Đình Dinh), giữ một chức quan coi kho thuộc Sở Võ Khố và mẹ là Ursala Khoa xứ Phường Đúc. Một số nguồn viết rằng dòng họ Ngô Đình gốc ở huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, nguồn khác thì cho là huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, sau lưu lạc tới Quảng Bình.

Lúc thiếu thời, Ngô Đình Khả theo Nho học rồi theo chương trình Pháp tại chủng viện, sau được gửi tới Đại chủng viện Penang, Malaysia để học triết học và thần học. Vì không có ơn gọi linh mục nên ông xin trở về cuộc sống thế tục. Sau đó ông làm thông sự cho Khâm sứ Pháp ở Huế là Pierre Rheinart.

Hoạn lộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Đình Khả từng làm võ quan dưới triều Đồng Khánh, và từng theo Nguyễn Thân–một người hợp tác với chính quyền bảo hộ. Trong thư gửi Toàn quyền Đông Dương năm 1944, con trai ông là Ngô Đình Thục có nhắc lại quá tình cộng tác với Pháp của cha mình[1]:

Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi nước Pháp thì – với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ An và Hà Tĩnh – tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận
...Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp và chỉ quyết định thiên về Pháp khi thấy có lợi... Tôi nêu ra điều nầy khi xét thấy rằng thân phụ tôi là Ngô Đình Khả đã từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và khi xét đến quá trình lâu dài của các em tôi, một quá trình được hình thành bằng lòng tận tụy vô bờ của các em tôi đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy sinh mạng sống của mình cho nước Pháp.

Ban đầu, linh mục chính xứ Phú Cam là Eugène Marie - Joseph Allys (1852-1936), đã giới thiệu Ngô Đình Khả nhận thông dịch tài liệu tiếng Latinh và tiếng Pháp cho lính Pháp. Ông cũng được làm thông ngôn cho các quan chức thực dân với triều đình Nguyễn nên có nhiều mối quan hệ. Những mối quan hệ đó đã giúp Ngô Đình Khả có được sự cất nhắc trong triều đình Huế, vốn đang bị khống chế bởi Pháp.

Năm 1895, khi làm Phó tướng cho Nguyễn Thân ra Bắc đánh dẹp nghĩa quân Cần Vương ở Hà Tĩnh, Ngô Đình Khả đã theo lệnh Nguyễn Thân đào mả, lấy hài cốt cụ Phan Đình Phùng trộn với thuốc súng, bỏ vào súng thần công bắn xuống dòng sông Lam. Một số nguồn sử liệu cho rằng, Ngô Đình khả phải chịu trách nhiệm chính trong việc thực dân Pháp biến khu vực Trấn Bình Đài ở Huế thành nhà thờ Thiên chúa giáo[2]

Năm 1896 ông được phong Thái thường tự khanh (chánh tam phẩm), chức Thương biện thuộc Viện Cơ mật. Cũng trong thời gian này ông được giao việc tổ chức Trường Quốc học, lúc bấy giờ gọi là trường Cao đẳng Tiểu học (tiếng Pháp: École Primaire Supérieure) ở chức Trưởng giáo. Hai năm sau, tức năm 1898 vua Thành Thái phong ông làm Thượng thư phụ đạo đại thần rồi đến năm 1902 thì thăng hàm Hiệp tá đại học sĩ.[3]

Năm 1905 ông thăng chức Tổng quản Cấm thành, bảo vệ vua Thành Thái. Hai năm sau khi chính quyền Bảo hộ dưới sự vận động của khâm sứ Ferdinand Lévecque đòi truất vua Thành Thái, ông nhất quyết không chịu ký tên vào tờ biểu rồi bị cất chức. Vì vậy dân gian có câu truyền: "Đày vua không Khả. Đào mả không Bài."

Triều Khải Định, ông mới được phục hàm. Ông mất năm 1925.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sổ bộ Hôn thú ở Phủ Cam, người vợ đầu của Ngô Đình Khả là Mađalêna Chĩu, bà qua đời một năm sau đó. Ông kết hôn với người vợ thứ hai là Anna Phạm Thị Thân (1871–1964) vào năm 1889. Họ có 8 con trai (2 người chết khi còn nhỏ) và 3 con gái. Những người con trưởng thành của ông bà đều là nhân vật quan trọng tại Trung Phần:

Người con đầu lòng là Ngô Đình Khôi (1885-1945), làm quan nhà Nguyễn đến chức Tổng đốc.
Thứ 2 là Ngô Đình Thị Giao (?-1944), tục gọi là bà Thừa Tùng.
Thứ 3 là Ngô Đình Thục (1897-1984), Tổng giám mục tiên khởi Tổng giáo phận Huế
Thứ 4 là Ngô Đình Diệm (1901-1963), Tổng thống Việt Nam Cộng hòa.
Thứ 5 là Ngô Đình Thị Hiệp (1903-2005),[4] tục gọi bà cả Ấm, vợ ông Nguyễn Văn Ấm. Con trai của họ là Hồng y Nguyễn Văn Thuận.
Thứ 6 là Ngô Đình Thị Hoàng, tục gọi bà cả Lễ, vợ ông Nguyễn Văn Lễ. Con rể của họ là Trần Trung Dung, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa.
Thứ 7 là Ngô Đình Nhu (1910-1963), cố vấn Chính trị của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Thứ 8 là Ngô Đình Cẩn (1912-1964), cố vấn Trung Phần.
Thứ 9 là con út Ngô Đình Luyện (1914-1990), luật sư, đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại London.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tuyển Tập "1963-2013 Năm Mươi Năm Nhìn Lại" (2013), Vũ Ngự Chiêu, trang 94
  2. ^ http://antgct.cand.com.vn/Nhan-vat/Ngo-Dinh-Kha-la-ai-310687/
  3. ^ Nguyễn Văn Minh. Dòng họ Ngô-Đình: Ước mơ chưa đạt. Garden Grove, CA: Hoàng Nguyên Xuất-bản, 2003. Trang 12-13.
  4. ^ “Cuộc đời em gái Tổng thống Ngô Đình Diệm”. BBC. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]