Nhà hát Opéra Garnier

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Palais Garnier
Paris Opera full frontal architecture, May 2009.jpg
Thông tin chung
Tên cũ Académie Nationale de Musique - Théâtre de l'Opéra (1875-1978),
Théâtre National de l'Opéra de Paris (1978-1989)
Tên khác Opéra de Paris,
L'Opéra Garnier,
Paris Opéra
Dạng Nhà hát opera
Phong cách Beaux-Arts
Địa điểm Place de l'Opéra, Paris, Pháp
Tọa độ 48°52′19″B 2°19′54″Đ / 48,87194°B 2,33167°Đ / 48.87194; 2.33167Tọa độ: 48°52′19″B 2°19′54″Đ / 48,87194°B 2,33167°Đ / 48.87194; 2.33167
Xây dựng
Khởi công 1862
Khánh thành 1875
Chiều cao 73,6 mét (241 ft)[1]
Kích thước
Kích thước khác 172 mét (564 ft) long
125 mét (410 ft) wide[1]
Chiều cao 73,6 mét (241 ft)[1]
Thiết kế
Kiến trúc sư Charles Garnier

Palais Garnier (phát âm: [palɛ ɡaʁnje] tiếng Pháp) ("Cung điện Ganier") là một nhà hát opera với 1.979 chỗ ngồi, được xây dựng từ năm 1861 đến năm 1875 cho đoàn Opera Paris. Ban đầu, nhà hát được gọi là Salle des Capucines, do vị trí của tòa nhà là nằm tại đại lộ des Capucinesquận 9 của Paris, nhưng chẳng bao lâu thì công trình mang tên Palais Garnier, nhằm công nhận sự sang trọng và tôn vinh vị kiến ​​trúc sư của tòa nhà, Charles Garnier. Nhà hát cũng thường được gọi là Opéra Garnier và trong lịch sử thì còn có thêm tên gọi là Opéra de Paris hoặc đơn giản chỉ là Opéra, [2] vì đây là tòa nhà chính của đoàn Opera Paris và công trình cũng liên quan đến đoàn Paris Opera Ballet đến trước năm 1989, khi rạp Opéra Bastille mở cửa tại Place de la Bastille.[3] Đoàn Paris Opera bây giờ chủ yếu sử dụng nhà hát Palais Garnier cho trình diễn ballet.

Palais Garnier "có lẽ là nhà hát opera nổi tiếng nhất trên thế giới, một biểu tượng của Paris như Nhà thờ Đức Bà, bảo tàng Louvre, hoặc nhà thờ Sacré Coeur."[4]Một phần sự nổi tiếng của công trình này đến từ cuốn tiểu thuyết lừng danh Bóng ma trong nhà hát năm 1910 của Gaston Leroux và đặc biệt là trong những chuyển thể sau này như ở các bộ phim và vở nhạc kịch nổi tiếng năm 1986[4]. Với tổng chi phí là 33 triệu franc, đây là tòa nhà tốn kém nhất được xây dựng dưới Đệ Nhị Đế chế.[5] Một yếu tố khác góp danh tiếng cho nhà hát là, trong số các tòa nhà được xây dựng ở Paris dưới thời Đệ nhị Đế chế, nhà hát này là tòa nhà duy nhất được thừa nhận là "một kiệt tác đỉnh cao".[6]Tuy nhiên, không đồng tình với quan điểm này, kiến ​​trúc sư người Pháp thế kỷ 20 Le Corbusier từng mô tả tòa nhà là "một thứ nghệ thuật dối trá" và cho rằng "phong cách Garnier chỉ đáng trang trí cho một ngôi mộ". [7]

Palais Garnier cũng là nơi "cư ngụ" của Bibliothèque-Musée de l'Opéra de Paris (Bảo tàng Thư viện Opera Paris), mặc dù bây giờ Bảo tàng này không còn được quản lý bởi nhà hát và là một phần của Thư viện Quốc gia Pháp. [8] Bảo tàng cũng là một phần trong các tour tham quan Palais Garnier. [9]

Kiến trúc và phong cách[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà hát được xây dựng theo phong cách "Napoléon III", giống với những gì Garnier đã nói với Hoàng hậu Eugenie. [10] Phong cách Napoléon III đậm chất chiết trung và vay mượn từ nhiều yếu tố lịch sử; nhà hát opera là sự kết hợp hài hòa và khéo léo của các yếu tố đến từ Baroque, chủ nghĩa cổ điển của Palladio, và kiến ​​trúc thời Phục hưng.[11] Phong cách này được kết hợp với phép đối xứng trục cùng với các kỹ thuật và vật liệu hiện đại, bao gồm cả việc sử dụng khung sắt, giống như các công trình Napoleon III khác đi tiên phong trước đó, chẳng hạn như Thư viện Quốc gia Pháp và các hội chợ ở Les Halles.[12][13]

Mặt tiền và phần nội thất bám sát theo nguyên lý trong phong cách Napoléon III: không có không gian nào là không được trang trí. [12] Garnier đã sử dụng cách trang trí đa sắc, tức là dùng một loạt các màu sắc khác nhau, để tạo nên hiệu ứng choáng ngợp. HIệu ứng này đạt được thông qua sử dụng các vật liệu trang trí khác nhau như đá cẩm thạch, đá, đá pocfia cùng với đồng mạ vàng. Mặt tiền tòa nhà sử dụng tới mười bảy loại vật liệu khác nhau, sắp xếp thành những bức phù điêu cẩm thạch nhiều màu, hàng cột và các bức tượng xa hoa; rất nhiều trong số chúng miêu tả các vị thần Hy Lạp.[12]

Kế hoạch xây dựng nhà hát Garnier

Ngoại thất[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt tiền chính[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt tiền chính nằm ở phía nam của nhà hát, mở ra Place de l'Opéra và có thể phóng tầm mắt dọc theo đại lộ l'Opéra. Đã có mười bốn họa sĩ, thợ khảm và bảy mươi ba thợ điêu khắc tham gia vào việc trang trí mặt tiền này.

Hai bức tượng nổi bật, L'Harmonie (Hòa thanh) và La Poésie (Thơ ca) của Charles Gumery, được lên đỉnh hai gác (avant-corps) trái và phải của mặt tiền chính. Cả hai đều làm bằng đồng và được mạ vàng.

Bức tượng L'Harmonie của Gumery (1869), đặt ở gác bên trái mặt tiền, có chiều cao 25m và được mạ vàng.


Bệ đỡ của hai gác này cũng được trang trí (từ trái sang phải) với bốn nhóm tượng đa hình lớn được điêu khắc bởi François Jouffroy (bức Thơ ca, còn được gọi là Hòa thanh),[14] Jean-Baptiste Claude Eugène Guillaume (bức Nhạc phối khí), Jean-Baptiste Carpeaux (bức Ca vũ, bị chỉ trích vì không đứng đắn) và Jean-Joseph Perraud (bức Kịch âm hưởng). Mặt tiền cũng được trang trí bằng các tác phẩm khác của Gumery, Alexandre Falguière cùng các tác phẩm điêu khắc khác.[15]

Hàng tượng đồng bán thân của nhiều nhà soạn nhạc vĩ đại nằm giữa các cột mặt tiền phía trước của nhà hát. Các bức tượng này mô tả, từ trái sang phải, lần lượt là Rossini, Auber, Beethoven, Mozart, Spontini, MeyerbeerHalévy. Ở phía bên trái và bên phải của mặt tiền phía trước tương ứng là tượng bán thân của hai nhà viết lời là Eugène ScribePhilippe Quinault.[15]

Hệ thống giàn sân khấu[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tượng nhóm Thần Apollo, Thơ ca, và Âm nhạc, nằm ở đỉnh đầu hồi phía nam của hệ thống giàn sân khấu, là tác phẩm của Aimé Millet. Hai bức tượng Pegasus bằng đồng nhỏ hơn ở hai bên đầu hồi là tác phẩm của Eugène-Louis Lequesne .

Mặt tiền của Palais Garnier với các nhãn chỉ ra vị trí của các tác phẩm điêu khắc khác nhau

Sảnh Hoàng đế (Pavillon de l'Empereur)[sửa | sửa mã nguồn]

Hay còn gọi là Vòm Hoàng đế, đây là một dãy phòng nằm ở phía bên trái (phía tây) của tòa nhà và được thiết kế để tiếp đón Hoàng đế một cách an toàn, Ngài có thể đi qua hai lối dốc này để vào trực tiếp tòa nhà. Khi Đế chế sụp đổ, việc thi công dừng lại và công trình bị bỏ ngang. Hiện tại, đây là nơi đặt thư viện với gần 600.000 tài liệu, bao gồm 100.000 cuốn sách, 1.680 tạp chí, 10.000 chương trình, thư, 100.000 bức ảnh, phác thảo trang phục và sân khấu, áp phích và những hồ sơ hành chính trong lịch sử.

Sảnh Người đăng ký (Pavillon des Abonnés)[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm ở phía bên phải (phía đông) của tòa nhà, đối xứng với sảnh Hoàng đế. Sảnh này không có hai đường dốc cong như sảnh Hoàng đế nên rất dễ để phân biệt. Dãy phòng này được thiết kế để cho phép những người đã đăng ký hay đặt vé trước (abonnés) có thể đi vào trực tiếp từ phương tiện của họ vào bên trong tòa nhà. Khu phòng được có trần là một mái vòm với đường kính 13,5 mét. Hai đài tưởng niệm hai bên đánh dấu lối vào sảnh ở phía bắc và phía nam.

Nội thất[sửa | sửa mã nguồn]

Nội thất của tòa nhà đặc trưng bởi các hành lang, cầu thang và các hốc tường xen lẫn với nhau. Điều này cho chép một lượng lớn người có thể di chuyển dễ dàng và cũng tạo không gian để giao lưu trong giờ nghỉ. Với ngập tràn nhung lụa, đồ thếp vàng, cùng với các trang trí thiên thần và mỹ nữ, nội thất của nhà hát mang đặc trưng của phong cách Baroque xa hoa.

Cầu thang lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa nhà có một cầu thang lớn làm bằng đá cẩm thạch trắng với lan can bằng đá cẩm thạch đỏ và xanh. Cầu thang được chia thành đường khác nhau dẫn lên Đại sảnh. Thiết kế của chi tiết này được lấy cảm hứng từ thiết kế cầu thang lớn của Victor Louis tại nhà hát de Bordeaux. Các bệ của cầu thang được trang trí với những vũ nữ mang đuốc, là tác phẩm của Albert-Ernest Carrier-Belleuse. Những bức tranh trên trần cầu thang được vẽ bởi Isidore Pils với các tác phẩm Thần Apollo đăng quang, Âm nhạc huyền ảo quyến rũ lòng người, Thần Minerva chiến đấu với Hung hăng trước mắt các vị thần của OlympusThành phố Paris đón nhận nhà hát mới. Khi những bức tranh được lắp vào vị trí lần đầu khoảng hai tháng trước khi nhà hát khai trương, Garnier sớm nhận ra là chúng quá tối cho khoảng không gian này. Với sự giúp đỡ của hai học trò của mình, Pils đã sửa lại các bức tranh sơn dầu đang lắp ngay trên trần nhà và, do tuổi đã cao, ông đổ bệnh. Các học trò của ông đã giúp hoàn thành phần việc còn lại, chỉ đúng một ngày trước khi khai trương, hệ thống giàn đỡ cũng được gỡ bỏ kịp thời. [16]

Đại sảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Khu sảnh lộng lẫy này, cao 18 mét, dài 154 mét và rộng 13 mét, được thiết kế ban đầu với vai trò là phòng vẽ cho người dân Paris. Căn phòng này được trùng tu vào năm 2004. Trần của sảnh được vẽ bởi Paul-Jacques-Aimé Baudry mô tả những khoảnh khắc khác nhau trong lịch sử âm nhạc. Sảnh mở ra một hành lanh ngoài và ở hai đầu là hai salon hình bát giác. Jules-Élie Delaunay vẽ trần cho salon phía đông và Félix-Joseph Barrias vẽ cho salon phía tây. Hai salon hình bát giác này mở về phía bắc vào Salon Mặt trăng ở đầu phía tây và Salon Mặt trời ở đầu phía đông. [17]

Khán phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Khán phòng nhà hát có hình móng ngựa truyền thống của Ý và có 1.979 chỗ ngồi. Sân khấu nhà hát là lớn nhất ở châu Âu và có thể chứa tới 450 nghệ sĩ. Bức màn nhung cầu kỳ trên sân khấu thực chất là một tấm vải toan được vẽ lên.

Khu vực trần bao quanh đèn chùm ban đầu được vẽ bởi Jules Eugène Lenepveu. Năm 1964, trần nhà hát được vẽ mới bởi Marc Chagall. Tác phẩm mới này được vẽ lên một khung có thể tháo rời và vẫn bảo quản bức vẽ gốc. Bức tranh của Chagall mô tả các phân cảnh từ các vở opera của 14 nhà soạn nhạc - Mussorgsky, Mozart, Wagner, Berlioz, Rameau, Debussy, Ravel, Stravinsky, Tchaikovsky, Adam, Bizet, Verdi, BeethovenGluck. Mặc dù được một số người khen ngợi, một số người khác cảm thấy tác phẩm của Chagall tạo nên "một nốt lạc tông trong bản giao hưởng nội thất của Garnier."[19]

Chiếc đèn chùm bằng đồng và pha lê nặng 7 tấn cũng được thiết kế bởi Garnier. Jules Corboz đã chuẩn bị mô hình, từ đó Lacarière, Delatour & Cie đúc và chạm trổ chùm đèn này. Tổng chi phí lên tới 30.000 đồng franc vàng. Việc sử dụng đèn chùm đã gây tranh cãi thời đó, do chi tiết này chắn góc nhìn sân khấu với những khán giả trên tầng bốn và cũngchhe mất bức tranh trần của Eugène Lenepveu.[20] Garnier đã lường trước những nhược điểm này và bảo vệ ý kiến của mình một cách sống động trong cuốn Le Théâtre năm 1871 của ông: "Còn thứ gì khác có thể lấp đầy nhà hát với tinh thần vui vẻ như vậy? Có ai khác có thể cho chúng ta những họa tiết khác nhau, những hàng điểm sáng lộng lẫy, những sắc vàng tự nhiên phản chiếu ánh sáng và những chấm tinh thể nổi bật này?"[21]

Vào ngày 20 tháng 5 năm 1896, một trong những đối trọng của chi tiết này bị đứt, làm chùm đèn phá vỡ trần nhà và rơi vào khán phòng, làm thiệt mạng một hướng dẫn viên. Sự cố này đã truyền cảm hứng cho một trong những cảnh nổi tiếng nhất trong cuốn tiểu thuyết gothic kinh điển năm 1910 của Gaston Leroux, Bóng ma trong nhà hát. [20]

Ban đầu, khi cần làm sạch, chiếc đèn chùm sẽ được nâng lên xuyên qua trần nhà vào đỉnh vòm phía trên khán phòng, nhưng bây giờ thì ngược lại, chiếc đèn sẽ được hạ xuống khi vệ sinh. Đỉnh vòm sau đó được sử dụng để tập opera trong khoảng năm 1960, đến những năm 1980 thì không gian này thiết kế lại thành hai tầng để luyện tập vũ đạo. Tầng dưới có phòng Nureïev (Nureyev) và phòng Balanchine, còn tầng trên là phòng Petipa, được đặt theo tên những nghệ sĩ ballet nổi tiếng.[20]

Đàn organ[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc đàn organ lớn được Aristide Cavaillé-Coll chế tạo để sử dụng cho một số tác phẩm. Chiếc đàn này đã không được sử dụng trong nhiều thập kỷ.

Nhà hàng[sửa | sửa mã nguồn]

Garnier ban đầu có dự định đặt một nhà hàng trong nhà hát opera; tuy nhiên, vì lý do kinh phí, nhà hàng này đã không được hoàn thành trong thiết kế ban đầu.

Qua nhiều lần nỗ lực trong nhiều năm, cuối cùng, một nhà hàng đã được mở ở phía đông của tòa nhà vào năm 2011. Nhà hàng L'Opéra được thiết kế bởi kiến trúc sư người Pháp Odile Decq. Đầu bếp trưởng là Barshe Aribert; [22] đến tháng 10 năm 2015, Guillame Tison-Malthé giữ chức vụ này. [23] Nhà hàng, có ba không gian khác nhau và một sân thượng lớn bên ngoài, có thể cho mọi người tham quan.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lựa chọn địa điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1821, đoàn Opéra de Paris đã chuyển đến nhà hát tạm thời Salle Le Peletier trên phố Le Leetetier [fr]. Đoàn nhạc mong muốn có một công trình lâu dài cho mình. Charles Rohault de Fleury, người được bổ nhiệm làm kiến ​​trúc sư chính thức của nhà hát opera vào năm 1846, đã thực hiện nhiều nghiên cứu khác nhau để chọn địa điểm và thiết kế phù hợp.[24] Đến năm 1847, Tỉnh trưởng Seine, Claude-Philibert de Rambuteau, đã chọn một địa điểm ở phía đông của Place du Palais-Royal với dự định công trình mới này sẽ giúp mở rộng phố Rivoli. Tuy nhiên, sau cuộc Cách mạng năm 1848, ý kiến Rambuteau bị gạt bỏ, việc xây dựng một nhà hát opera mới cũng không còn được quan tâm. Địa điểm này sau đó được sử dụng để xây dựng Grand Hôtel du Louvre (Charles Rohault de Fleury tham gia thiết kế).[25]

Sau khi Đệ nhị Đế chế thành lập vào năm 1852 và Georges-Eugène Haussmann được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng vào tháng 6 năm 1853, mối quan tâm đến việc xây nhà hát opera mới được nhóm lại một lần nữa. Hoàng đế Napoléon III đã bị ám sát hụt tại lối vào nhà hát Salle Le Peletier vào ngày 14 tháng 1 năm 1858. Lối vào chật hẹp của Salle Le Peletier nhấn mạnh sự cần thiết của lối vào riêng biệt, an toàn hơn cho các nguyên thủ quốc gia. Mối quan tâm này, cộng với cơ sở vật chất không đầy đủ cũng như tính chất tạm thời của nhà hát đã tăng thêm tính cấp bách cho việc xây dựng một nhà hát opera mới do nhà nước tài trợ. Đến tháng 3, Haussmann, theo đề xuất của Rohault de Fleury, đã đặt địa điểm xây dựng trên phố Boulevard des Capucines, mặc dù quyết định này không được công bố cho đến năm 1860. Trước đó, địa điểm này là nơi hội tụ các con phố một cách khá kỳ quặc, một công trình mới có thể giúp giải quyết vấn đề này. Đồng thời, địa điểm này cũng rất kinh tế về mặt giá đất.[26]

Vào ngày 29 tháng 9 năm 1860, một sắc lệnh của Đế chế đã chính thức chỉ định địa điểm cho nhà hát mới, [27] với diện tích chỉ định là 12.000 mét vuông (1,2 ha). [28] Đến tháng 11 năm 1860, Rohault de Fleury đã hoàn thành thiết kế cho công trình này, ông cho đây là tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp của mình. Ông cũng đang làm việc với một ủy ban từ thành phố để thiết kế mặt tiền của các tòa nhà khác dọc theo quảng trường mới để đảm bảo chúng hòa hợp với nhau. Tuy nhiên, cùng tháng đó, Achille Fould được Bá tước Alexandre Colonna-Walewski thay thế làm Bộ trưởng nhà nước. Vợ của ông là Marie Anne de Ricci Poniatowska đã sử dụng vị trí là tình nhân của Napoleon III để có được cuộc hẹn của chồng.[29] Nhận thức được các thiết kế cạnh tranh và chịu áp lực phải trao hoa hồng cho Viollet-le-Duc, người được sự hậu thuẫn của Hoàng hậu Eugénie, Walewski đã thoát khỏi việc đưa ra quyết định bằng cách đề xuất một cuộc thi thiết kế kiến ​​trúc để chọn kiến ​​trúc sư.[30]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă A View On Cities (2009). Opéra de Paris Garnier. Truy cập 2009-08-09 from http://www.aviewoncities.com/paris/operagarnier.htm.
  2. ^ Beauvert 1996, pp. 102–109 (capacity, theatre names); Hanser 2006, pp. 172 (dates of construction).
  3. ^ Ayers 2004, p. 188.
  4. ^ a ă Hanser 2006, pp. 172–179.
  5. ^ Simeone 2000, p. 177.
  6. ^ Watkin 1996, pp. 391–392.
  7. ^ Quoted and translated in Woolf 1988, pp. 220, 233. From Le Corbusier, Almanach d'Architecture Moderne, Collection de 'L'Esprit Nouveau, Charles Eliot Norton Lectures 1938–9 (Paris, 1955), p. 120 ("art de mensonge", "événement Garnier est un décor d'enterrement").
  8. ^ "Bibliothèque-Musée de l'Opéra" (in French) at the BnF website. Retrieved 3 August 2011.
  9. ^ "Palais Garnier" Lưu trữ 18 October 2011 tại Wayback Machine. at the Paris Opera website. Retrieved 3 August 2011.
  10. ^ Sarmant, Thierry, Histoire de Paris: Politique, Urbanisme, civilization, (2012), pg. 191
  11. ^ Ducher, Robert, Caractéristique des Styles (1988), page 190
  12. ^ a ă â Texier, Simon, Paris- Panorama de l'archirecture (2012) page 95
  13. ^ Mead 1991, pp. 4–5; Sveiven, Megan. “AD Classics: Paris Opera / Charles Garnier”. ArchDaily. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015. .
  14. ^ Jouffroy's group is titled l'Harmonie in Nuitter 1878, p. 11, and in Garnier 1875–81, vol. 1, p. 424, vol. 2, p. 273, but is identified as La Poésie in the "Table des planches" of the 1875 atlas folio Statues décoratives (View at Wikimedia Commons), and according to Fontaine 2000, p. 82, is also sometimes referred to as Lyric Poetry.
  15. ^ a ă Fontaine 2000
  16. ^ Kirkland 2013, pp. 283—284.
  17. ^ Fontaine 2004, p. 152.
  18. ^ a ă Fontaine 2004, p. 152.
  19. ^ Hanser 2006, p. 177.
  20. ^ a ă â Fontaine 2004, p. 94–95.
  21. ^ Garnier 1871, p. 205; quoted and translated in Fontaine 2004, p. 94.
  22. ^ Paris Opera Restaurant Press Release
  23. ^ “Guillaume Tison-Malthé, aux fourneaux de L'Opéra Restaurant”. cuisine.journaldesfemmes.com. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  24. ^ Mead 1991, p. 53.
  25. ^ Kirkland 2014, pp. 188–189.
  26. ^ Mead 1991, pp. 53–56.
  27. ^ Mead 1991, p. 58; Kirkland. Page 190.
  28. ^ Beauvert 1996, p. 102.
  29. ^ Kirkland 2013, pp. 185–186.
  30. ^ Kirkland 2013, p. 191.

Nguồn

  • Allison, John, editor (2003). Great Opera Houses of the World, supplement to Opera Magazine, London.
  • Ayers, Andrew (2004). The Architecture of Paris. Stuttgart; London: Edition Axel Menges. ISBN 978-3-930698-96-7.
  • Beauvert, Thierry (1996). Opera Houses of the World. New York: The Vendome Press. ISBN 978-0-86565-977-3.
  • Ducher, Robert (1988), Caractéristique des Styles, Paris: Flammarion, ISBN 2-08-011539-1 
  • Fauser, Annegret, editor; Everist, Mark, editor (2009). Music, Theater, and Cultural Transfer. Paris, 1830–1914. Chicago: The University of Chicago Press. ISBN 978-0-226-23926-2.
  • Folli, Andrea; Merello, Gisella (2004). "The Splendour of the Garnier Rooms at the Monte Carlo Casino", pp. 112–137, in Bonillo, Jean-Lucien, et al., Charles Garnier and Gustave Eiffel on the French and Italian Rivieras: The Dream of Reason (in English and French). Marseilles: Editions Imbernon. ISBN 9782951639614.
  • Fontaine, Gérard (2000). Charles Garnier's Opéra: Architecture and Exterior Decor, translated by Ellie Rea and Barbara Shapiro-Comte. Paris: Éditions du Patrimoine. ISBN 978-2-85822-581-1.
  • Fontaine, Gérard (2004). Charles Garnier's Opéra: Architecture and Interior Decor, translated by Charles Penwarden. Paris: Éditions du Patrimoine. ISBN 978-2-85822-801-0.
  • Garnier, Charles (1871). Le Théâtre. Paris: Hachette. View at Google Books.
  • Garnier, Charles (1875–81). Le nouvel Opéra de Paris, two volumes text and six atlas folios (two with architectural plates and four with plates of photographs by Louis-Emile Durandelle of sculptures and paintings). Paris: Ducher. List of entries at WorldCat.
  • Hanser, David A. (2006). Architecture of France. Westport, Connecticut: Greenwood Press. ISBN 978-0-313-31902-0.
  • Huebner, Steven (2003). "After 1850 at the Paris Opéra: institution and repertory", pp. 291–317 in The Cambridge Companion to Grand Opera, edited by David Charlton. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-64118-0. ISBN 978-0-521-64683-3 (paperback).
  • Guest, Ivor Forbes (1974). Ballet of the Second Empire. London: Wesleyan University Press. ISBN 978-0-273-00496-7.
  • Guest, Ivor Forbes (2006). The Paris Opera Ballet. London: Wesleyan University Press. ISBN 978-1-85273-109-0.
  • Kirkland, Stephane (2013). Paris Reborn: Napoléon III, Baron Haussmann, and the Quest to Build a Modern City. New York: St Martin's Press. ISBN 978-0-312-62689-1.
  • Kleiner, Fred S. (2006). Gardner's Art Through The Ages. Belmont, California: Thomsom Wadsworth. ISBN 978-0-534-63640-1.
  • Mead, Christopher Curtis (1991). Charles Garnier's Paris Opéra: Architectural Empathy and the Renaissance of French Classicism. New York: The Architectural History Foundation. Cambridge, Massachusetts: The MIT Press. ISBN 978-0-262-13275-6.
  • Nuitter, Charles (1875). Le nouvel Opéra (with 59 engravings). Paris: Hachette. Copies 1, 2, and 3 at Google Books.
  • Nuitter, Charles (1878). Histoire et description du nouvel Opéra. Paris: Plon. View at Gallica. (Title page undated; signed by Nuitter and dated 28 November 1878 on p. 42; Gallica gives the date of publication as 1883.)
  • Scott, Pamela; Lee, Antoinette J. (1993). Buildings of the District of Columbia. New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-506146-8.
  • Simeone, Nigel (2000). Paris: A Musical Gazetteer. New Haven: Yale University Press. ISBN 978-0-300-08053-7.
  • Texier, Simon (2012). Paris- Panorama de l'architecture. Parigramme. ISBN 978-2-84096-667-8. 
  • Watkin, David (1996). A History of Western Architecture, 2nd edition. New York: Barnes & Noble Books. ISBN 978-0-7607-0252-9.
  • Woolf, Penelope (1988). "Symbol of the Second Empire: cultural politics and the Paris Opera House", pp. 214–235, in ''The Iconography of Landscape, edited by Denis Cosgrove and Stephen Daniels. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 9780521389150.
  • Zeitz, Karyl Lynn (1991). Opera: the Guide to Western Europe's Great Houses. Santa Fe, New Mexico: John Muir Publications. ISBN 978-0-945465-81-2.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

 

Những địa điểm nổi tiếng của Paris
Tháp Eiffel • Khải Hoàn Môn • Đại lộ Champs-Élysées • Nhà thờ Đức Bà • Bảo tàng Louvre • Nhà thờ Sacré-Cœur • Bảo tàng Orsay
Trung tâm Pompidou • Conciergerie • Grand Palais • Vườn Luxembourg • Điện Invalides • Opéra Garnier • Nghĩa trang Père-Lachaise
Khải Hoàn Môn