Nisekoi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nisekoi
Nisekoi Volume 1.jpg
Ảnh bìa của cuốn manga tập đầu tiên với 3 nhân vật chính là Onodera Kosaki, Ichijou Raku và Kirisaki Chitoge.
ニセコイ
Thể loại harem, hài lãng mạn
Manga
Nisekoi (one-shot)
Tác giả Naoshi Komi
Nhà xuất bản Shueisha
Đối tượng Shōnen
Ấn hiệu Jump Comics
Tạp chí Jump NEXT!
Phát hành 8 tháng 1 năm 2011
Manga
Tác giả Naoshi Komi
Nhà xuất bản Shueisha
Nhà xuất bản khác
Đối tượng Shōnen
Ấn hiệu Jump Comics
Tạp chí Weekly Shōnen Jump
Đăng tải 21 tháng 11 năm 20118 tháng 8 năm 2016[1]
Số tập 25 (danh sách tập)
Manga
Nisekoi: Urabana
Tác giả Hajime Tanaka
Minh họa Naoshi Komi
Nhà xuất bản Shueisha
Đối tượng Nam giới
Ấn hiệu Jump j-Books
Đăng tải 4 tháng 6 năm 201328 tháng 12 năm 2013
Số tập 2
Anime
Đạo diễn Naoyuki Tatsuwa
Akiyuki Shinbo
Sản xuất Atsuhiro Iwakami
Hiro Maruyama
Hiroyuki Kiyono
Mitsutoshi Kubota
Kịch bản Akiyuki Shinbo
Fuyashi Tou
Âm nhạc Sho Watanabe, Tomoki Kikuya
Hãng phim Shaft
Cấp phép
Kênh khác
Phát sóng 11 tháng 1 năm 2014 24 tháng 5 năm 2014
Số tập 20 + 3 OVA (danh sách tập)
Trò chơi
Nisekoi: Yomeiri!?
Phát triển Konami
Phát hành Konami
Hệ máy PlayStation Vita
Ngày phát hành
Anime
Nisekoi:
Đạo diễn Naoyuki Tatsuwa
Akiyuki Shinbo
Sản xuất Atsuhiro Iwakami
Hiro Maruyama
Hiroyuki Kiyono
Mitsutoshi Kubota
Kịch bản Akiyuki Shinbo
Fuyashi Tou
Âm nhạc Sho Watanabe, Tomoki Kikuya
Hãng phim Shaft
Cấp phép
Kênh khác
Phát sóng 10 tháng 4 năm 2015 26 tháng 6 năm 2015
Số tập 12 + OVA (danh sách tập)
Chủ đề Anime và manga

Nisekoi (ニセコイ? lit. "Fake Love"), tiếng Anh: Nisekoi: False Love (thường được biết đến với tên tiếng Việt là Tình yêu giả tạo), là 1 sê-ri manga hài lãng mạn được viết và minh họa bởi Komi Naoshi. Nisekoi lần đầu tiên được xuất bản dưới dạng one-shot manga ở cuốn tạp chí Jump NEXT! của nhà xuất bản Shueisha trước khi được đăng lên Weekly Shōnen Jump. Ngày 26 tháng 11 năm 2012, Nisekoi đã được dịch sang tiếng Anh và xuất bản trên tạp chí điện tử của Viz Media, Weekly Shonen Jump. Trong tháng 1 năm 2014 sê-ri này đã được biên soạn thành 10 tập tankōbon tại Nhật Bản, trong khi đó bản tiếng Anh đang được xuất bản và in ra bởi Viz Media. Không chỉ vậy, một cuốn tiểu thuyết dựa trên nguồn cảm hứng từ manga đã được ra mắt với tiêu đề Nisekoi: Urabana, do Tanaka Hajime viết và được Nhà xuất bản Shueisha phát hành. Tiểu thuyết đã có 2 tập được xuất bản, vào ngày 4 tháng 6 và ngày 28 tháng 12 năm 2013.

Vào tháng 5 năm 2013, đã có thông báo chính thức về việc sản xuất anime Nisekoi dựa trên tác phẩm tiểu thuyết cùng tên. Bộ anime do đạo diễn Shinboat Akiyuki và hãng phim Shaft thực hiện, chính thức lên sóng từ 11 tháng 1 năm 2014. Mùa thứ hai của bộ anime bắt đầu phát sóng từ tháng 4 năm 2015.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Nisekoi kể về anh chàng học sinh trung học Ichijou Raku, con trai của ông trùm băng đảng yakuza theo phe Shuei-Gumi, và Kirisaki Chitoge, con gái của 1 ông trùm gangster trong băng tội phạm có tên là Beehive. Trong ngày đầu tiên đi học, do vội nên Kirisaki đã nhảy qua bức tường để vào kịp giờ học, và không may đã ngã vào người Ichijou. Sau khi xin lỗi, Kirisaki liền vội chạy đi. Một lúc sau, ở trong lớp học, Ichijou mới nhận ra rằng mình làm rơi mất kỉ vật là 1 chiếc ổ khóa của 1 cô bé đã trao tặng cách đây 10 năm với lời hứa: "Cậu giữ khóa... Tớ giữ chìa... Sau khi chúng ta xa nhau rồi, cậu phải luôn cẩn thận mang theo nó nhé... Khi lớn lên,nếu cậu thấy có ai đó cầm chìa,hãy mở khoá...Và cùng kết hôn nhé...". Sau khi nhận ra rằng Kirisaki là học sinh mới chuyển vào lớp mình học, Ichijou đã bắt cô ấy phải tìm lại kỉ vật cùng mình. Trong suốt khoảng thời gian tìm kiếm, họ bắt đầu trở nên căm ghét nhau.[4] Trong 1 lần trở về nhà, Ichijou được tin rằng 2 băng đảng Shuei-Gumi và Beehive đang có xung đột lẫn nhau, và rất có thể sẽ xảy ra 1 trận chiến. Trước tình hình đó, Ichijou buộc phải làm bạn trai giả của con gái thủ lĩnh băng Beehive. Và người đó chính là Kirisaki. Trong suốt 3 năm học tại trung học, họ phải đóng giả thành 1 cặp đôi đang yêu nhau, nhằm giữ mối quan hệ hòa bình của 2 băng đảng. Điều này đã trở thành 1 thách thức lớn, bởi không chỉ họ đang ghét lẫn nhau, mà còn bởi vì Ichijou đang yêu thầm 1 cô bạn học cùng lớp, Onodera Kosaki, và Ichijou cũng hi vọng rằng đó chính là người đang giữ chiếc chìa khóa của lời hứa 10 năm trước. Một vài tình huống làm phức tạp thêm tình hình, gồm có nhóm vệ sĩ quá trớn của Chitoge, một nữ sát thủ, một cô gái nhận mình là vợ chưa cưới của Raku, và sự tồn tại của nhiều chiếc chìa khóa. Một cô gái nữa là thủ lĩnh của băng đảng mafia Trung Quốc cũng nhập cuộc.

Sau nhiều cuộc hành trình với các cô gái, Raku nhận ra rằng cậu đã dành tình cảm cho cả Chitoge và Kosaki. Khi Chitoge biết rằng Raku và Kosaki đã thích nhau từ khi họ học trung học cơ sở, cô cố gắng ủng hộ mối quan hệ của họ bằng cách rời Nhật Bản. Việc này khiến Raku và những người khác đi tìm cô. Họ khám phá thêm về quyển sách kể câu chuyện của những chiếc chìa khóa, và gợi nhớ lại những gì đã thực sự xảy ra 10 năm trước. Mặc dù Kosaki là cô gái mà Raku hứa hôn, Raku nhận ra rằng bây giờ cậu yêu Chitoge và thổ lộ tình cảm của mình với cô. Cuối cùng chàng Raku đã kết hôn với Chitoge sinh được 2 cậu con trai nhí nhảnh, đáng yêu.

Danh sách nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Ichijō Raku (一条 楽? also: Raku Ichijou)
Lồng tiếng bởi: Uchiyama Kōki
Kirisaki Chitoge (桐崎 千棘?)
Lồng tiếng bởi: Tōyama Nao
Onodera Kosaki (小野寺 小咲?)
Lồng tiếng bởi: Hanazawa Kana
Maiko Shū (舞子 集?)
Lồng tiếng bởi: Kaji Yūki
Claude (クロード Kurōdo?)
Lồng tiếng bởi: Koyasu Takehito
Miyamoto Ruri (宮本 琉璃?)
Lồng tiếng bởi: Uchiyama Yumi
Tsugumi Seishirō (鶫 誠士郎? also: Seishirou Tsugumi)
Lồng tiếng bởi: Komatsu Mikako
Tachibana Marika (橘 万里花?)
Lồng tiếng bởi: Asumi Kana
Paula McCoy (ポーラ・マッコイ Pōra Makkoi?)
Lồng tiếng bởi: Numakura Manami
Onodera Haru (小野寺 春?)
Lồng tiếng bởi: Sakura Ayane
Ayakaji Suzu (彩風 涼?)
Lồng tiếng bởi: Koiwai Kotori
Kanakura Yui (奏倉 羽?)
Lồng tiếng bởi: Horie Yui

Các phiên bản chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Nisekoi được viết và minh họa bởi Komi Naoshi và lúc đầu được xuất bản dưới dạng manga one-shot trong tạp chí thường niên Jump NEXT! của nhà xuất bản Shueisha vào ngày 8 tháng 1 năm 2011, trước khi trở thành 1 sê-ri trong tạp chí Weekly Shōnen Jump vào 7 tháng 11 năm 2011. Vào tháng 11 năm 2011, Shueisha đã xuất bản trực tuyến tập đầu tiên, đã được dịch sang tiếng Anh. Bộ manga đã được Viz Media mua bản quyền bản tiếng Anh, và được xuất bản trên tạp chí điện tử Weekly Shonen Jump của họ từ 26 tháng 11 năm 2012, với tiêu đề: Nisekoi: False Love.

Tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Một loạt tiểu thuyết hai tập, có tựa đề Nisekoi: Urabana, được xuất bản bởi nhà xuất bản Shueisha dưới nhánh nhà xuất bản Jump j-Books của họ. Cuốn tiểu thuyết được viết bởi Tanaka Hajime và minh họa bởi Komi Naoshi. Tập đầu tiên đã được xuất bản vào ngày 4 tháng 6 và tập thứ hai vào 28 tháng 12 năm 2013.

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Một bộ anime được sản xuất bởi hãng phim Shaft, do đạo diễn Shinbo Akiyuki thực hiện đã chính thức phát sóng từ ngày 11 tháng 1 năm 2014. Bài hát mở đầu là "Click" do ClariS trình bày, và bài hát kết thúc mang tên "Heart Pattern" được hát bởi Toyama Nao, dưới tên nhân vật của mình là Kirisaki Chitoge.

Doanh thu[sửa | sửa mã nguồn]

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Nisekoi Manga Ends on Monday As Creator Plans New Manga in October”. Anime News Network. 4 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2016. 
  2. ^ a ă “Animax Asia's Nisekoi Ad Reveals May 5 Premiere”. Anime News Network. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016. 
  3. ^ 2014-08-05, Nisekoi: Yomeiri!? Japanese release date set, Gematsu
  4. ^ Green, Scott (26 tháng 11 năm 2012). “VIDEO: "Nisekoi: False Love" Shonen Jump Manga Trailer”. Crunchyroll.com. 
  5. ^ “Japanese Comic Ranking, April 30-May 6 - News”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  6. ^ “Japanese Comic Ranking, July 9–15 - News”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  7. ^ “Japanese Comic Ranking, August 6–12 (Updated) - News”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  8. ^ “Japanese Comic Ranking, November 5–11 - News”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  9. ^ “Japanese Comic Ranking, January 14–20 - News”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  10. ^ “Japanese Comic Ranking, March 11–17 - News”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  11. ^ “Japanese Comic Ranking, June 10–16 - News”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  12. ^ “Japanese Comic Ranking, September 9–15 - News”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  13. ^ “Japanese Comic Ranking, November 11-17 - News [2013-11-20”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  14. ^ “Japanese Comic Ranking, January 13-19 - News [2014-01-22”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  15. ^ “Japanese Comic Ranking, March 17–23”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  16. ^ “Japanese Comic Ranking, May 12–18”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  17. ^ “Japanese Comic Ranking, August 18–24”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  18. ^ “Japanese Comic Ranking, October 13–19”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  19. ^ “New York Times Manga Best Seller List, January 5–11 - News”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  20. ^ “New York Times Manga Best Seller List, February 23-March 1 - News”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  21. ^ “New York Times Manga Best Seller List, March 2–8 - News”. Anime News Network. 14 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  22. ^ “New York Times Manga Best Seller List, March 16–22”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  23. ^ “New York Times Manga Best Seller List, May 18–24”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  24. ^ “New York Times Manga Best Seller List, July 13–19”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  25. ^ “New York Times Manga Best Seller List, September 7–13”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  26. ^ “New York Times Manga Best Seller List, November 16–22”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  27. ^ “New York Times Manga Best Seller List, January 11–17”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  28. ^ “New York Times Manga Best Seller List, March 1–7”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  29. ^ “New York Times Manga Best Seller List, March 15–21”. Anime News Network. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Nhật
Tiếng Anh