Nothing but the Beat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Nothing but the Beat
Album phòng thu của David Guetta
Phát hành 26 tháng 8, 2011 (2011-08-26)
9 tháng 9, 2012 (2012-09-09) (Nothing but the Beat 2.0)
Thu âm 2010-11;
Paris, Pháp
(Gum Prod Studio, Catfield Studio)
Amsterdam, Hà Lan
(Piano Music Studio)
Ibiza, Tây Ban Nha
(Can Rocas Studio)
Thể loại Urban-dance, electro house, dance-pop
Thời lượng 41:44 (Đĩa 1)
46:46 (Đĩa 2)
Hãng đĩa Virgin, EMI
Sản xuất David Guetta, Sandy Vee, Giorgio Tuinfort, Frédéric Riesterer, Black Raw, Afrojack, Avicii
Thứ tự album của David Guetta
One Love
(2009)
Nothing but the Beat
(2011)
Listen
(2014)
Bìa đĩa khác
Nothing but the Beat 2.0
Đĩa đơn từ Nothing but the Beat
  1. "Where Them Girls At"
    Phát hành: 2 tháng 5, 2011 (2011-05-02)
  2. "Little Bad Girl"
    Phát hành: 27 tháng 6, 2011 (2011-06-27)
  3. "Without You"
    Phát hành: 27 tháng 9, 2011 (2011-09-27)
  4. "Titanium"
    Phát hành: 9 tháng 12, 2011 (2011-12-09)
  5. "Turn Me On"
    Phát hành: 14 tháng 12, 2011 (2011-12-14)
  6. "The Alphabeat"
    Phát hành: 26 tháng 3, 2012 (2012-03-26)
  7. "I Can Only Imagine"
    Phát hành: 2 tháng 5, 2012 (2012-05-02)
Đĩa đơn từ Nothing but the Beat 2.0
  1. "She Wolf (Falling to Pieces)"
    Phát hành: 21 tháng 8, 2012 (2012-08-21)
  2. "Just One Last Time"
    Phát hành: 15 tháng 11, 2012 (2012-11-15)
  3. "Play Hard"
    Phát hành: 22 tháng 3, 2013 (2013-03-22)

Nothing but the Beat là tựa đề album phòng thu thứ năm của nam DJnhà sản xuất người Pháp David Guetta, được phát hành vào ngày 26 tháng 8 năm 2011. Nothing but the Beat được phát hành dưới dạng album đôi, với đĩa CD thứ nhất bao gồm các ca khúc có sự hợp tác của những nghệ sĩ đến từ thế giới nhạc R&B, hip hoppop như Lil Wayne, Nicki Minaj, Usher, Jennifer Hudson, Jessie JSia. Ngoài ra còn có các ca khúc với sự góp giọng của hai nam ca sĩ will.i.amAkon, cả hai người đều đã từng hợp tác với Guetta trong album phòng thu trước đó của anh, One Love. Trong khi đó, đĩa CD thứ hai lại bao gồm các ca khúc nhạc sàn không lời.[1][2] Đây cũng là album đầu tiên của Guetta không có sự góp giọng của người bạn hợp tác lâu năm, Chris Willis. Nothing but the Beat nhận được khá nhiều ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình.

Album đã có bốn đĩa đơn đạt được thành công lớn trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, đó là "Where Them Girls At", "Without You", "Turn Me On" và "Titanium", trở thành đĩa đơn thứ tư thứ năm, thứ sáu và thứ bảy trong sự nghiệp của Guetta lọt được vào Top 20 trên bảng xếp hạng này. Vào ngày 30 tháng 11 năm 2011, album nhận được một đề cử cho Album nhạc điện tử/dance xuất sắc nhất tại Giải Grammy lần thứ 54. Đến tháng 10 năm 2012, tính riêng ở Mỹ, album đã bán được hơn 407,000 bản,[3] và đã được chứng nhận đĩa Bạch kim bởi Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế cho hơn 1,000,000 bản được tiêu thụ trên toàn chấu Âu.

Album được phát hành lại vào ngày 7 tháng 9 năm 2012 dưới tựa đề, Nothing but the Beat 2.0.[4] Phiên bản này bao gồm sáu ca khúc mới, trong đó có đĩa đơn, "She Wolf (Falling to Pieces)", ca khúc có sự góp giọng của Sia, người đã từng hợp tác với Guetta trong đĩa đơn "Titanium" của phiên bản trước. Một số ca khúc trong phiên bản đầu tiên đã bị bỏ đi trong phiên bản tái phát hành, nhưng các ca khúc chọn làm đĩa đơn vẫn được giữ lại.

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn đầu tiên, "Where Them Girls At", một sản phẩm hợp tác giữa Guetta với Flo RidaNicki Minaj, được phát hành vào ngày 2 tháng 5 năm 2011. Ca khúc được phát hành sớm hơn dự kiến do có một số tin tặc đã tuồn lên mạng bản acapella phần rap của ca khúc, và thêm vào đó những giai điệu phối khí của riêng họ.[5][6] Ca khúc ra mắt tại vị trí #14 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trở thành đĩa đơn thứ ba trong sự nghiệp của Guetta lọt vào Top 20 ở Mỹ.[7][8] "Where Them Girls At" cũng lọt được vào Top 10 trên bảng xếp hạng của nhiều quốc gia, đặc biệt là vị trí quán quân trên bảng xếp hạng UK Dance Chart.

"Little Bad Girl", hợp tác với Taio CruzLudacris, là đĩa đơn thứ hai từ album và được phát hành vào ngày 27 tháng 6 năm 2011. Video âm nhạc của ca khúc được đăng tải vào ngày 18 tháng 7 năm 2011. "Little Bad Girl" đã lọt vào Top 10 bảng xếp hạng của nhiều quốc gia, đặc biệt là vị trí quán quân ở Venezuela. Tuy nhiên, Mỹ là quốc gia duy nhất mà ca khúc không đạt được thành công cho lắm, chỉ đạt được vị trí cao nhất là #70.

"Without You", hợp tác với Usher, là đĩa đơn thứ ba từ album. Video âm nhạc của ca khúc được đăng tải vào ngày 14 tháng 10 năm 2011.[9][10] "Without You" được gửi đến đài phát thanh mainstream ở Mỹ vào ngày 27 tháng 9 năm 2011. Ca khúc đã đạt được nhiều thành công thương mại quốc tế và lọt vào Top 10 tại Mỹ.[11][12]

"Titanium", hợp tác với Sia, được phát hành vào ngày 9 tháng 12 năm 2011 và cũng là đĩa đơn quốc tế thứ tư của album. Ban đầu, "Titanium" chỉ được phát hành như một đĩa đơn quảng bá cho Nothing but the Beat, nhưng sau đó, ca khúc này lại nhận được nhiều thành công lớn về mặt thương mại, lọt được vào các bảng xếp hạng lớn trên khắp thế giới nên đã được chọn làm đĩa đơn chính thức.[13] Ở Mỹ, đây lại là đĩa đơn thứ năm,[14] chính thức được gửi đến đài phát thanh Top 40, Mainstream và Rhythmic vào ngày 24 tháng 4 năm 2012.[15]

"Turn Me On", hợp tác với Nicki Minaj, là đĩa đơn thứ tư ở Mỹ, chính thức được gửi đến đài phát thanh Top 40, Mainstream và Rhythmic vào ngày 13 tháng 12 năm 2012. Sau đó, ca khúc được chọn làm đĩa đơn quốc tế thứ năm và được phát hành vào tháng 1 năm 2012.[16] Video âm nhạc cho "Turn Me On" được quay trong tháng 11 năm 2011 bởi đạo diễn Sanji và được đăng tải vào ngày 31 tháng 1 năm 2012.[17][18][19]

"I Can Only Imagine", hợp tác với Chris BrownLil Wayne, là đĩa đơn thứ sáu của album và được phát hành vào ngày 2 tháng 5 năm 2012. Video âm nhạc, dưới sự đạo diễn của Colin Tilley, được quay vào cuối tháng 5 năm 2012 và được đăng tải vào ngày 2 tháng 7 năm 2012.[20] "I Can Only Imagine" đạt được vị trí quán quân ở Bỉ và vị trí á quân ở Hungary. Ca khúc được gửi tới đài phát thanh Mỹ vào ngày 7 tháng 8 năm 2012, tuy nhiên ở Mỹ, ca khúc chỉ đạt được vị trí cao nhất là #44.

"She Wolf (Falling to Pieces)", hợp tác với Sia, là đĩa đơn thứ bảy của album và được phát hành vào ngày 21 tháng 8 năm 2012. Đây cũng là đĩa đơn đầu tiên từ album tái phát hành, Nothing but the Beat 2.0. Một EP với phiên bản mở rộng cùng với hai bản phối khí của ca khúc thực hiện bởi Michael Calfan và Sandro Silva được phát hành độc quyền trên Beatport vào ngày 7 tháng 8 năm 2012.[21] Đĩa đơn cùng với EP phối khí được phát hành chính thức trên iTunesAmazon vào ngày 21 tháng 8 năm 2012, còn phiên bản đĩa CD được phát hành vào ngày 24 tháng 8 năm 2012.[22][23]. "She Wolf (Falling to Pieces)" được gửi đến đài phát thanh Mỹ vào tháng 1 năm 2013.

"Just One Last Time", hợp tác với Taped Rai, là đĩa đơn thứ tám của album và được phát hành vào ngày 15 tháng 11 năm 2012.

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Nothing but the Beat[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa 1: Vocal Album[24]
STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Where Them Girls At" (hợp tác với Flo Rida & Nicki Minaj) Tramar Dillard, Onika Maraj, Juan Silinas, Oscar Silinas, Jared Cotter, Michael Caren, David Guetta, Giorgio Tuinfort, Sandy Vee Guetta, Vee, Caren 3:30
2. "Little Bad Girl" (hợp tác với Taio Cruz & Ludacris) Taio Cruz, Christopher Bridges, Guetta, Tuinfort, Frédéric Riesterer Guetta, Tuinfort, Riesterer, Black Raw* 3:12
3. "Turn Me On" (hợp tác với Nicki Minaj) Ester Dean, Guetta, Tuinfort Guetta, Tuinfort, Black Raw* 3:19
4. "Sweat" (Snoop Dogg vs. David Guetta) Calvin Broadus, Cheri Williams, Derek Jenkins, Dwayne Richardson, Cassio Ware, David Singer-Vine, Niles Hollowell-Dhar, Guetta, Tuinfort, Riesterer Guetta, Tuinfort, Riesterer 3:16
5. "Without You" (hợp tác với Usher) Usher Raymond IV, Cruz, Rico Love, Guetta, Tuinfort, Riesterer Guetta, Tuinfort, Riesterer, Black Raw* 3:28
6. "Nothing Really Matters" (hợp tác với will.i.am) William Adams, Guetta, Tuinfort, Riesterer, Pierre-Luc Rioux Guetta, Tuinfort, Riesterer 3:39
7. "I Can Only Imagine" (hợp tác với Chris Brown & Lil Wayne) Christopher Brown, Dwayne Carter, Jacob Luttrell, Nasri Atweh, Guetta, Tuinfort, Riesterer Guetta, Riesterer, Black Raw* 3:29
8. "Crank It Up" (hợp tác với Akon) Aliaune Thiam, Guetta, Tuinfort, Riesterer Guetta, Tuinfort, Riesterer, Fabian Lenseen*, Silvio Ecomo* 3:12
9. "I Just Wanna F" (Guetta & Afrojack hợp tác với Timbaland & Dev) Jacob Luttrell, Amy Kaup, Jessica Sarangay, Singer-Vine, Hollowell-Dhar, Guetta, Nick van de Wall Guetta, Afrojack 3:23
10. "Night of Your Life" (hợp tác với Jennifer Hudson) Crystal Johnson, Anthony Preston, Guetta, Tuinfort Guetta, Tuinfort 3:41
11. "Repeat" (hợp tác với Jessie J) Jessica Cornish, The Invisible Men, Ali Tennant, Guetta, Tuinfort, Riesterer Guetta, Tuinfort, Riesterer 3:26
12. "Titanium" (hợp tác với Sia) Sia Furler, Guetta, Tuinfort, van de Wall Guetta, Tuinfort, Afrojack 4:05
Tổng thời lượng:
41:44

(*) sản xuất bổ sung

Nothing but the Beat 2.0[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Titanium" (hợp tác với Sia)     4:05
2. "Turn Me On" (hợp tác với Nicki Minaj)     3:19
3. "She Wolf (Falling to Pieces)" (hợp tác với Sia)     3:42
4. "Without You" (hợp tác với Usher)     3:28
5. "I Can Only Imagine" (hợp tác với Chris Brown & Lil Wayne)     3:29
6. "Play Hard" (hợp tác với Ne-Yo & Akon)     3:21
7. "Wild One Two" (Jack Back hợp tác với David Guetta, Nicky Romero & Sia)     3:09
8. "Just One Last Time" (hợp tác với Taped Rai)     3:47
9. "In My Head" (David Guetta & Daddy's Groove hợp tác với Nervo)     3:51
10. "Where Them Girls At" (hợp tác với Nicki Minaj & Flo Rida)     3:14
11. "Little Bad Girl" (hợp tác với Taio Cruz & Ludacris)     3:11
12. "Sweat" (Snoop Dogg vs. David Guetta)     3:16
13. "Crank It Up" (hợp tác với Akon)     3:12
14. "Nothing Really Matters" (hợp tác với will.i.am)     3:39
15. "Just One Last Time" (hợp tác với Taped Rai)     3:46
16. "Every Chance We Get We Run" (David Guetta & Alesso hợp tác với Tegan and Sara)     4:00
17. "Sunshine (Edit)" (David Guetta & Avicii)     3:52
18. "Lunar (Edit)" (David Guetta & Afrojack)     3:10
19. "What the F***"       4:07
20. "Metropolis (Edit)" (David Guetta & Nicky Romero)     3:10
21. "The Alphabeat"       4:29
22. "Toy Story"       3:45

Nothing but the Beat: Ultimate[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Play Hard" có sử dụng giai điệu kết hợp với ca khúc "Better Off Alone" của Alice Deejay.[30]
  • Phần thông tin được lấy từ ghi chú trong album Nothing but the Beat.[31]

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày Định dạng Hãng đĩa Phiên bản
Úc[25][26] 26 tháng 8 năm 2011 CD, tải kỹ thuật số EMI Music Bản Thường
Đức[71][72][73] LP, CD, tải kỹ thuật số
Ireland[74] CD, tải kỹ thuật số
Ấn Độ[75] CD
Hà Lan[76][77] LP, CD, tải kỹ thuật số
Anh[78] 29 tháng 8 năm 2011 CD What a Music Ltd.
Đan Mạch[79] EMI Music
Canada[80]
Ba Lan[81] LP, CD
Pháp[82][83] Virgin Records, EMI Music
Ý[84][85] 30 tháng 8 năm 2011 EMI Music
Mỹ[86] CD Astralwerks Bản Thường (phiên bản Mỹ)
Brazil[87] 31 tháng 8 năm 2011 EMI Music Bản Thường, bản Đặc biệt
Đức[27] 25 tháng 11 năm 2011 Bản Đặc biệt
Úc[88]
Anh[89] 28 tháng 11 năm 2011 Positiva Records
Đan Mạch[90] 30 tháng 11 năm 2011 EMI Music
Đức[91] 7 tháng 9 năm 2012 CD, tải kỹ thuật số Virgin Records, EMI Music Nothing but the Beat 2.0
Anh 10 tháng 9 năm 2012
Ba Lan[92] EMI Music
Mỹ Capitol Records
Đức[93] 7 tháng 12 năm 2012 Virgin Records Nothing but the Beat Ultimate

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Maloy, Sarah (ngày 29 tháng 6 năm 2011). “David Guetta Denies U2 & Madonna Rumors, Reveals Double Album | Billboard.com”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2011. 
  2. ^ Copsey, Robert (ngày 15 tháng 7 năm 2011). “Jessie J, Chris Brown for David Guetta's 'Nothing But The Beat' album - Music News - Digital Spy”. Digital Spy. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011. 
  3. ^ Mansfield, Brian (ngày 24 tháng 10 năm 2012). “Scotty McCreery's Christmas album debuts at No. 4”. Idol Chatter (USA Today). Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2012. 
  4. ^ “Nothing But the Beat 2.0: Amazon.de: Musik”. Truy cập 10 tháng 2 năm 2015. 
  5. ^ http://www.amazon.de/Where-Girls-Feat-Nicki-Explicit/dp/B004Y1QMH6/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1345330720&sr=8-1
  6. ^ Bhansali, Akshay (ngày 9 tháng 5 năm 2011). “David Guetta Says Nicki Minaj Was Initially 'Shy' In Studio”. MTV News. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2011. 
  7. ^ Graff, Gary (ngày 10 tháng 5 năm 2011). “David Guetta Teams with Flo Rida, Nicki Minaj for 'Where Them Girls At'. Billboard (Detroit: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2011. 
  8. ^ Trust, Gary (ngày 11 tháng 5 năm 2011). “Adele's 'Rolling in the Deep' Tops Hot 100”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. 
  9. ^ Publié par Rémi. “Image: David Guetta et Usher sur le tournage de "Without You" ~ Urban Fusions”. Urban-fusions.com. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  10. ^ Mason, Kerri (ngày 15 tháng 8 năm 2011). “David Guetta: Inside His Latest Hit Parade, 'Nothing But the Beat'. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2011. 
  11. ^ “Radio Industry News, Music Industry Updates, Arbitron Ratings, Music News and more!”. FMQB. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  12. ^ “Top 40/M Future Releases | Mainstream Hit Songs Being Released and Their Release Dates”. Allaccess.com. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  13. ^ “15 Minutes Before The Dive - David Guetta - Titanium (Cover Of The Month #1)”. YouTube. Ngày 23 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012. 
  14. ^ “Top 40 Rhythmic Future Releases | R&B Song and Hip-Hop Music Release Dates |”. Allaccess.com. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012. 
  15. ^ “®R&R:: Going For Adds™:: CHR/Top 40”. Gfa.radioandrecords.com. Ngày 24 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012. 
  16. ^ “Nicki Minaj Readies ‘Pink Friday: Roman Reloaded’ for Valentine’s Day”. Rap-Up.com. Ngày 22 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012. 
  17. ^ “Music Video News: IN PRODUCTION: David Guetta f/ Nicki Minaj - Sanji, dir”. Video Static. Ngày 23 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012. 
  18. ^ “WebCite query result”. Truy cập 10 tháng 2 năm 2015. 
  19. ^ “WebCite query result”. Truy cập 10 tháng 2 năm 2015. 
  20. ^ “Colin Tilley on Twitter: "Today shooting David Guetta & Chris Brown”. Truy cập 10 tháng 2 năm 2015. 
  21. ^ “Beatport”. Beatport. Truy cập 9 tháng 10 năm 2015. 
  22. ^ http://www.amazon.de/gp/product/B008WGJN66/ref=dm_sp_alb?ie=UTF8&qid=1345329781&sr=8-5
  23. ^ “She Wolf (Falling to Pieces): Amazon.de: Musik”. Truy cập 9 tháng 10 năm 2015. 
  24. ^ a ă “Jessie J, Chris Brown for David Guetta's 'Nothing But the Beat' album”. Digital Spy. Ngày 15 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011. 
  25. ^ a ă “Nothing But the Beat by David Guetta - Download Nothing But the Beat on iTunes”. iTunes Store. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2011. 
  26. ^ a ă “Nothing But The Beat (Bonus Shirt) | Music, Music Genres, Pop/Rock”. JB HI-FI. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2011. 
  27. ^ a ă “DAVID GUETTA // Nothing But The Beat”. Amazon MP3. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2011. 
  28. ^ http://www.amazon.com/Nothing-But-The-Beat-Explicit/dp/B00940XIGU/ref=sr_shvl_album_2?ie=UTF8&qid=1346620943&sr=301-2
  29. ^ a ă http://www.amazon.co.uk/Nothing-But-Beat-David-Guetta/dp/B009SIYHG8/ref=sr_1_1?s=music&ie=UTF8&qid=1354533320&sr=1-1
  30. ^ http://hiphop-n-more.com/2012/09/david-guetta-play-hard-feat-akon-ne-yo/
  31. ^ Chú thích trống (trợ giúp) 
  32. ^ “Top 50 Albums Chart - Australian Recording Industry Association”. ARIA. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2011. 
  33. ^ Steffen Hung. “David Guetta - Nothing But The Beat”. austriancharts.at. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  34. ^ “David Guetta - Nothing But The Beat”. ultratop.be. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  35. ^ “David Guetta - Nothing But The Beat”. ultratop.be. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  36. ^ John Williams (ngày 14 tháng 9 năm 2011). “CANOE - JAM! Music - Artists - Adele: Adele rises to the top again”. Jam.canoe.ca. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  37. ^ Steffen Hung. “David Guetta - Nothing But The Beat”. danishcharts.com. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  38. ^ Steffen Hung. “David Guetta - Nothing But The Beat”. dutchcharts.nl. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  39. ^ “Musiikkituottajat - Tilastot - Suomen virallinen lista - Artistit”. Ifpi.fi. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  40. ^ aCharts.us David Guetta - Guetta Blaster - Music Charts
  41. ^ “David Guetta - Nothing But The Beat - Music Charts”. Acharts.us. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  42. ^ “Greek Albums Chart (29/04-05/05) 2012”. Cyta.gr. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  43. ^ “Top 40 album- és válogatáslemez-lista – 2011. 43. hét” (bằng tiếng Hungary). Mahasz. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012. 
  44. ^ “Chart Track”. Irish Albums Chart. GfK. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2011. 
  45. ^ “Chart Track”. fimi.it. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2011. 
  46. ^ “Chart Track”. oricon.jp. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2012. 
  47. ^ “Mexico Top 100” (PDF). AMPROFON. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2011. 
  48. ^ Steffen Hung. “David Guetta - Nothing But The Beat”. charts.org.nz. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  49. ^ Steffen Hung. “David Guetta - Nothing But The Beat”. norwegiancharts.com. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  50. ^ “Official Polish Albums Chart – OLiS”. ZPAV. Ngày 12 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011. 
  51. ^ Steffen Hung. “David Guetta - Nothing But The Beat”. portuguesecharts.com. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  52. ^ “PROMUSICAE – TOP 100 ALBUMES SEMANA 36: del 05.08.2011 al 11.09.2011” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2011. 
  53. ^ Steffen Hung. “David Guetta - Nothing But The Beat”. swedishcharts.com. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  54. ^ Steffen Hung. “David Guetta - Nothing But The Beat”. hitparade.ch. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  55. ^ “Archive Chart”. UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2011. 
  56. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2011 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. 
  57. ^ “Austrian album certifications – David Guetta – Nothing but the Beat” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo.  Nhập David Guetta vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập Nothing but the Beat vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  58. ^ “Ultratop − Goud en Platina – 2011”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. 
  59. ^ “France album certifications – David Guetta – Nothing but the beat” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. 
  60. ^ a ă “Finland album certifications – David Guetta – Nothing but the Beat” (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. 
  61. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (David Guetta; 'Nothing but the Beat')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  62. ^ “Adatbázis – Arany- és platinalemezek – 2012” (bằng tiếng Hungary). Mahasz. 
  63. ^ “Ireland album certifications – David Guetta – Nothing but the Beat”. Irish Recorded Music Association. 
  64. ^ “Italy album certifications – David Guetta – Nothing but the Beat” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý.  Chọn Album e Compilation ở mục Sezione. Nhập David Guetta vào mục Filtra. Chọn 2012 ở mục Anno.
  65. ^ “Certificaciones – David Guetta” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. 
  66. ^ “Poland album certifications – David Guetta – Nothing but the Beat” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV. 
  67. ^ “Top AFP - Semana 32 de 2012”. Artistas-espectaculos.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012. 
  68. ^ “Spain album certifications – David Guetta – Nothing but the Beat” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España.  Chọn bảng xếp hạng, nhập 2011 vào khung "Year". Chọn ' trong khung "Semana". Nhấp vào "Search Charts"
  69. ^ “Britain album certifications – David Guetta – Nothing but the Beat” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry.  Nhập Nothing but the Beat vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search
  70. ^ “IFPI Platinum Europe Awards – 2011”. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. 
  71. ^ “Nothing But the Beat: David Guetta: Amazon.de: Musik” (bằng tiếng Đức). Amazon.de. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2011. 
  72. ^ “Nothing But the Beat - Vinyl LP - David Guetta: Amazon.de: Musik”. Amazon.de. Ngày 9 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  73. ^ “Nothing But the Beat von David Guetta - Nothing But the Beat bei iTunes laden” (bằng tiếng Đức). iTunes Store. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2011. 
  74. ^ “Nothing But the Beat by David Guetta - Download Nothing But the Beat on iTunes”. iTunes Store. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2011. 
  75. ^ “Nothing But the Beat by David Guetta”. EMI India. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2011. 
  76. ^ “bol.com | Nothing But The Beat, David Guetta” (bằng tiếng Hà Lan). bol.com b.v. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011.  Đã bỏ qua văn bản “ Muziek” (trợ giúp)
  77. ^ “Nothing But the Beat van David Guetta - Download Nothing But the Beat op iTunes” (bằng tiếng Hà Lan). iTunes Store. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2011. 
  78. ^ “Nothing But the Beat: David Guetta: Amazon.co.uk: Music”. Amazon.co.uk. 
  79. ^ “EMI Music Denmark » Releaseplan” (bằng tiếng Đan Mạch). EMI. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011. 
  80. ^ “Nothing But The Beat (Deluxe Version): David Guetta: Amazon.ca: Music”. Amazon.ca. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  81. ^ “Nothing But The Beat - David Guetta” (bằng tiếng (tiếng Ba Lan)). empik.com. Ngày 29 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  82. ^ “Nothing But The Beat: Amazon.fr: Musique” (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011. 
  83. ^ “Nothing But The Beat: David Guetta: Amazon.fr: Musique” (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011. 
  84. ^ “Nothing But The Beat: David Guetta: Amazon.it”. Amazon.it. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  85. ^ “Nothing But The Beat: David Guetta: Amazon.it”. Amazon.it. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  86. ^ “Amazon.com: Nothing But the Beat [Explicit]: David Guetta: Music”. Amazon.com. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. 
  87. ^ “Nothing But The Beat (3 CDs) - David Guetta (Brazil)” (bằng tiếng Bồ Đào Nhae). Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2012. 
  88. ^ “Nothing But the Beat (Xmas Edition)”. JB Hi-Fi. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2012. 
  89. ^ “Nothing But the Beat: Limited Deluxe Edition: David Guetta: Amazon.co.uk: Music”. Amazon.co.uk. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2011. 
  90. ^ “Nothing But The Beat - Deluxe Edition (3CD) - Guetta David - Musik - CDON.COM”. CDON Group. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2011. 
  91. ^ “UNDER CONSTRUCTION”. Truy cập 9 tháng 10 năm 2015. 
  92. ^ “Nothing But The Beat (New Version)”. empik.com. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2012. 
  93. ^ “UNDER CONSTRUCTION”. Truy cập 27 tháng 10 năm 2015.