Roland Linz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Roland Linz
Roland Linz.JPG
Linz thi đấu cho Austria Wien năm 2011
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Roland Gunther Linz
Ngày sinh 9 tháng 8, 1981 (41 tuổi)
Nơi sinh Leoben, Áo
Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in)
Vị trí Tiền đạo
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1995–1997 DSV Leoben
1997–1999 1860 München
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1999–2001 DSV Leoben 53 (27)
2001–2006 Austria Wien 81 (26)
2003–2004Admira Mödling (mượn) 31 (15)
2004Nice (mượn) 15 (0)
2005Sturm Graz (mượn) 13 (4)
2006–2007 Boavista 28 (10)
2007–2009 Braga 33 (11)
2009Grasshoppers (mượn) 16 (7)
2009–2010 Gaziantepspor 5 (0)
2010–2013 Austria Wien 79 (39)
2013–2014 Muangthong United 4 (1)
2014 Belenenses 3 (0)
Tổng cộng 368 (141)
Đội tuyển quốc gia
2002–2010 Áo 39 (8)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia

Roland Gunther Linz (sinh ngày 8 tháng 8 năm 1981Leoben, Styria) là một cựu cầu thủ bóng đá người Áo thường chơi ở vị trí tiền đạo tiền đạo[1][2]. Hiện tại, Roland Linz đã giải nghệ.

Anh đã dành phần lớn sự nghiệp của mình cho Austria Wien, giành được 5 Thành tích lớn trong đó có 3 chức vô địch Bundesliga của Áo. Anh cũng đã từng thi đấu ở Pháp, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ KỳThái Lan.

Roland Gunther Linz đã có 39 lần khoác áo Đội tuyển Bóng đá Quốc gia Áo, khoác áo ĐTQG tại Euro 2008.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp sớm[sửa | sửa mã nguồn]

Anh sinh ra ở Leoben, Styria, Áo. Khi 15 tuổi, anh rời Áo sang Đức để gia nhập TSV 1860 München.

Hai năm sau, Linz trở lại Áo để gia nhập lại câu lạc bộ quê hương, lần này được ra sân trong đội hình chuyên nghiệp. Trong hai mùa giải tiếp theo, anh ấy đã ghi 27 bàn sau 53 trận cộng lại, và phong độ tốt của anh ấy ở giải hạng hai đã thu hút sự chú ý của các đội bóng lớn hơn trong nước, dẫn đến việc anh ấy ký hợp đồng với FK Austria Wien.

Linz đã có lần đầu tiên thành công tại đội bóng mới của mình, khi vô địch Bundesligacúp quốc gia Áo 2002–03. Một năm sau, anh được cho mượn từ Austria Wien sang VfB Admira Wacker Mödling , nằm ở ngoại ô phía nam thủ đô.

Xuất Ngoại lần thứ 2 và trở về Áo[sửa | sửa mã nguồn]

Linz rời Áo lần thứ hai vào năm 2004, gia nhập câu lạc bộ OGC Nice tại Ligue 1 dưới dạng cho mượn. Tuy nhiên, anh ấy đã thất bại và trở về Áo chỉ sau sáu tháng, để chơi cho SK Sturm Graz cho đến cuối mùa giải.

Linz sau đó trở lại Austria Wien sau đó anh đăng quang vua phá lưới giải đấu. Đó là khoảng thời gian anh ấy đã khẳng định được vị trí của mình trong đội tuyển quốc gia, với hai bàn thắng trong trận thua 2-3 trước Ba Lan tại Sân vận động SilesianChorzów trong vòng loại FIFA World Cup 2006.

Sự nghiệp ở Bồ Đào Nha và những năm sau đó[sửa | sửa mã nguồn]

Sau những màn trình diễn xuất sắc cho cả câu lạc bộquốc gia,anh ấy đã gia nhập Boavista F.C. trong mùa hè năm 2006, với bản hợp đồng ba năm. Anh ấy đã kết thúc mùa giải đầu tiên của mình với mười bàn thắng tại Primeira Liga, và sau đó chuyển đến S.C. Braga[3]

Trong UEFA Cup 2007–08 Linz ghi 11 bàn trong giải đấu, khiến cầu thủ ghi bàn kỳ cựu João Tomás phải ngồi dự bị khi Braga đứng thứ 7 và một lần nữa lọt vào UEFA Cup , thông qua UEFA Intertoto Cup.

Sau cuộc tranh cãi với huấn luyện viên Jorge Jesus, thì bị thay ra trong trận thua 0-2 trước Leixões S.C[4][5][6]. vào tháng 9 năm 2008, Linz đánh mất tầm quan trọng của mình trong đội, vào ngày 30 tháng 1 năm 2009, anh ký hợp đồng với CLB Grasshopper Zürich cho đến tháng 6.

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Linz có trận ra mắt đầu tiên cho Áo trong một trận giao hữu với Slovakia, thắng 2–0 tại Graz vào ngày 27 tháng 3 năm 2002. Anh vẫn đá chính thường xuyên cho đến tháng 9 năm 2007

Linz đã trở lại đội tuyển quốc gia trong thời gian tham dự VCK Euro 2008 trên sân nhà

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Với Austria Wien[sửa | sửa mã nguồn]

Giải bóng đá vô địch quốc gia Áo: 2002–03, 2005–06, 2012–13

Cúp Bóng đá Áo: 2002–03, 2005–06

Với Braga[sửa | sửa mã nguồn]

UEFA Intertoto Cup: 2008

Cá nhân

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]