S-Adenosylmethionine

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
S-Adenosyl methionine
Danh pháp IUPAC (2S)-2-Amino-4-[[(2S,3S,4R,5R)-5-(6-aminopurin-9-yl)-3,4-dihydroxyoxolan-2-yl]methyl-methylsulfonio]butanoate
Tên khác S-Adenosyl-L-methionine; SAM-e; SAMe, AdoMet, ademethionine
Nhận dạng
Số CAS 29908-03-0
PubChem 9865604
MeSH S-Adenosylmethionine
Mã ATC A16AA02
Ảnh Jmol-3D ảnh
SMILES
InChI 1/C15H22N6O5S/c1-27(3-2-7(16)15(24)25)4-8-10(22)11(23)14(26-8)21-6-20-9-12(17)18-5-19-13(9)21/h5-8,10-11,14,22-23H,2-4,16H2,1H3,(H2-,17,18,19,24,25)/p+1/t7?,8-,10-,11-,14-,27?/m1/s1
Thuộc tính
Công thức phân tử C15H22N6O5S
Khối lượng mol 398.44 g/mol
Điểm nóng chảy
Điểm sôi
Các nguy hiểm

S-Adenosylmethionine (SAM-e, SAMe, SAM, AdoMet, ademetionine) là một hợp chất thiên nhiên trong mọi tế bào còn sống và được sản xuất bằng cách nuôi tế bào các loại men, nấm. SAM được tìm ra đầu tiên ở Ý bởi G. L. Cantoni năm 1952.[1]

SAMe đã được bán theo toa bác sĩ ở các nước châu Âu từ năm 1975 để chữa viêm khớp và trầm cảm. Thuốc này khá đắt và phải dùng từ 400 mg tới 1200 mg mỗi ngày. Tác dụng phụ là gây khó chịu trong tiêu hóa, dễ bị tiêu chảy.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cantoni, GL (1952). “The Nature of the Active Methyl Donor Formed Enzymatically from L-Methionine and Adenosinetriphosphate”. J Am Chem Soc 74 (11): 2942–3. doi:10.1021/ja01131a519. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]