Son Ye Jin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Son Ye-jin
Son Ye-jin 2014 (cropped).png
Sinh Son Yeon-jin
11 tháng 1, 1982 (33 tuổi)
Daegu, Hàn Quốc
Công việc Diễn viên, người mẫu
Năm hoạt động 2000–nay
Đại lý MSTeam Entertainment
Tôn giáo Công giáo
Tên thật
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữ Son Yeon-jin
McCune–Reischauer Son Yeonjin
Nghệ danh
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữ Son Ye-jin
McCune–Reischauer Son Yejin

Son Ye-jin (sinh ngày 11 tháng 1 năm 1982) là nữ diễn viên, người mẫu Hàn Quốc. Cô bắt đầu nổi tiếng với các bộ phim tình cảm như Cổ điển(2003), Hương Mùa Hè(2003), Khoảnh Khắc Để Nhớ(2004) và sau đó nhận được sự công nhận về diễn xuất thông qua các vai diễn đa dạng trong nhiều thể loại phim, đặc biệt là trong Cô đơn trong tình yêu(2006) và My wife got married(2008).[1]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Son Ye-jin xuất hiện lần đầu với vai phụ trong phim của đạo diễn Park Ki-hyung là Secret Tears vào năm 2000 và tiếp sau đó là vai chính trong các phim truyền hình như "Delicious Proposal", "Sunhee Jinhee", và "Daemang: Great Ambition". Vai diễn gây được sự chú ý đầu tiên của cô là trong bộ phim điện ảnh Chihwaseon của đạo diễn Im Kwon-taek, bộ phim được trình chiếu tại liên hoan phim Cannes và giành được giải thưởng Đạo diễn xuất sắc nhất vào năm 2002.[2]

Son Ye Jin đạt được những thành công lớn ban đầu với hai bộ phim là Bản giao hưởng tình yêu và Cổ điển. Đặc biệt là bộ phim Cổ điển đã được đón nhận rộng rãi tại Hong Kong và Trung Quốc.[2] Bộ phim cũng mang lại cho cô giải Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất tại lễ trao giải Baeksang Arts Awards lần thứ 39 và Grand Bell Awards lần thứ 24. Son Ye Jin tiến xa hơn với tư cách như là một ngôi sao của làn sóng Hàn Quốc vào năm 2003 khi tham gia phim truyền hình "Hương Mùa Hè", một phần trong series phim truyền hình Bốn Mùa nổi tiếng cùng với Trái tim mùa thu, Bản tình ca mùa đông và Điệu Valse mùa xuân. Hai bộ phim điện ảnh tiếp theo của cô cũng là những phim thành công lớn tại Châu Á: "Khoảnh Khắc Để Nhớ" được làm dựa theo một phim truyển hình của Nhật Bản, đã đạt kỷ lục doanh thu tại Nhật và bán được hơn 2 triệu vé tại Hàn Quốc.[3][4] Trong khi đó bộ phim "Tuyết tháng tư" mà cô đóng chung với Bae Yong Joon[5] cũng thành công lớn tại Nhật BảnTrung Quốc (mặc dù bất ngờ gây thất vọng tại Hàn Quốc).[2][6]

Son Ye Jin đã thay đổi hình tượng dễ thương của mình trong các dự án phim sau đó.[2] Cô vào vai một kẻ lừa đảo trong bộ phim The Art of Seduction, một phóng viên tham vọng trong Spotlight,[7][8] và trở thành đàn chị trong giới xã hội đen với phim Open City.[9][10] Năm 2004, cô tham gia bộ phim truyền hình được đánh giá cao là Cô đơn trong tình yêu, vào vai một phụ nữ đã ly hôn.[11][12] Bộ phim đem lại cho cô danh hiệu Nữ diễn viên xuất sắc nhất trong thể loại truyền hình tại lễ trao giải Baeksang Arts Awards lần thứ 43.[13] Năm 2008, vai diễn một phụ nữ lấy hai người chồng của Son Ye Jin trong bộ phim My Wife Got Married đã mang lại cho cô giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại lễ trao giải Blue Dragon Film Awards[14] cũng như nhiều giải thưởng khác.

Sau khi tham gia bộ phim kinh dị White Night,[15][16] Son Ye Jin muốn thực hiện một dự án phim vui vẻ hơn và vì vậy cô đã lựa chọn tham gia bộ phim truyền hình tình cảm hài là "Personal Taste" cùng với Lee Min Ho vào năm 2010.[17][18][19][20][21][22] Cô cũng làm khách mời trong bộ phim truyền hình "Secret Garden".[23]

Cuối năm 2011, Son Ye Jin vào vai một cô gái có khả năng nhìn thấy ma trong bộ phim hài kịch lãng mạng kinh dị "Spellbound".[24][25][26][27][28] Spellbound được sản xuất với kinh phí thấp nhưng đã thu hút trên 3 triệu lượt khán giả Hàn tới rạp, đạt doanh thu hơn 18 triệu đô.[29] Bô phim cũng được công chiếu tại Việt Nam từ ngày 6/1/2012 với tên "Lời nguyền tình yêu".

Năm 2012, Son Ye Jin tham gia bộ phim bom tấn đầu tiên trong sự nghiệp "The Tower", được làm lại từ phim "The Towering Inferno" năm 1974 của Hollywood.[30][31][32][33] Cô trở lại màn ảnh nhỏ vào năm 2013 với bộ phim có chủ đề báo thù Shark (còn có tên khác là Don't Look Back: The Legend of Orpheus), đóng cùng với Kim Nam-gil.[34][35][36] Bộ phim điện ảnh kinh dị Blood and Ties ra mắt sau đó với nội dung kể về một cô gái phát hiện ra cha mình liên quan đến một vụ án bắt cóc giết người.[37]

Sau bộ phim truyền hình Shark, năm 2014, Son Ye Jin tiếp tục hợp tác với nam diễn viên Kim Nam Gil trong bộ phim điện ảnh hài lịch sử Pirates - bộ phim đem lại cho cô giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại lễ trao giải Grand Bell Awards.[38][39][40][41] Dự án tiếp theo của cô là bộ phim kinh dị về đề tài chính trị House Filled with Happiness vào năm 2015, đóng cùng với Kim Joo-hyuk - bạn diễn của cô trong My Wife Got Married.[42] Son Ye Jin tham gia dự án phim điện ảnh hợp tác Trung - Hàn. Phim điện ảnh có tên tiếng Anh (tạm thời) là "The Bad Guy Must Die", là phim thuộc thể loại black comedy và được quay chủ yếu trên đảo Jeju.

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai
2000 Secret Tears
2002 Chi-hwa-seon So-woon
Lover's Concerto Shim Soo-in/Gyung-hee
2003 Cổ điển Ji-hye/Joo-hee
Crazy First Love Ju Il-mae
2004 Khoảnh Khắc Để Nhớ Su-jin
2005 April Snow Seo-young
The Art of Seduction Han Ji-won
2007 Yobi, the Five Tailed Fox Yobi (Lồng tiếng)
2008 Open City Baek Jang-mi
My Wife Got Married Joo In-ah
2009 White Night Yoo Mi-ho/Lee Ji-ah
2011 Spellbound Kang Yeo-ri
2012 The Tower Seo Yoon-hee
2013 Blood and Ties Jung Da-eun
2014 The Pirates - Cướp Biển Thời Joseon Yeo-wol
2015 House Filled with Happiness Yeon-hong
The Bad Guy Must Die Ji Yeon
2016 The Last Princess Princess Deokhye

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai Kênh
2001 Delicious Proposal Jang Hee-ae MBC
Sun-hee và Jin-hee Shim Sun-hee MBC
2002 Great Ambition Choi Dong-hee SBS
2003 Hương Mùa Hè Shim Hye-won KBS2
2006 Cô đơn trong tình yêu Yoo Eun-ho SBS
2008 Spotlight Seo Woo-jin MBC
2010 Personal Taste - Nàng ngốc và Quân Sư Park Gae-in MBC
2011 Secret Garden Chính mình (khách mời, tập 20) SBS
2013 Shark Jo Hae-woo KBS2

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Tên phim Kết quả
2001 MBC Drama Awards Nữ diễn viên mới xuất sắc Delicious Proposal Đoạt giải
2002 Korean Association of Film Critics Awards lần thứ 22 Nữ diễn viên mới xuất sắc Lovers' Concerto Đoạt giải
2003 Baeksang Arts Awards lần thứ 39 Nữ diễn viên mới xuất sắc Cổ điển - The Classic Đoạt giải
Grand Bell Awards lần thứ 40 Nữ diễn viên mới xuất sắc Đoạt giải
Blue Dragon Film Awards lần thứ 24 Nữ diễn viên được yêu thích Đoạt giải
2004 Moscow International Love Film Festival lần thứ 9 Cặp đôi xuất sắc nhất với Jo Seung-woo Đoạt giải
2005 Blue Dragon Film Awards lần thứ 26 Diễn viên chính xuất sắc nhất April Snow Đề cử
2006 Hundred Flowers Film Festival lần thứ 15 Nữ diễn viên chính xuất sắc dành cho phim nước ngoài Khoảnh Khắc Để Nhớ - A Moment To Remember Đoạt giải
Liên hoan phim châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 51 Nữ diễn viên chính xuất sắc Tuyết tháng tư - April Snow Đoạt giải
Korea International Jewelry & Watch Fair lần thứ 4 Nữ hoàng trang sức N/A Đoạt giải
Asia Model Festival Awards lần thứ 2 Giải thưởng Model Star N/A Đoạt giải
SBS Drama Awards Top nữ diễn viên xuất sắc Alone in Love Đoạt giải
Top 10 Stars Đoạt giải
2007 Baeksang Arts Awards lần thứ 42 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất lĩnh vực truyền hình Đoạt giải
Korea Fashion & Design Awards Giải thưởng Fashion Icon N/A Đoạt giải
2008 Style Icon Awards lần thứ 1 Style Icon - Actress N/A Đoạt giải
Fun Fearless Female N/A Đoạt giải
Korea Jewelry Awards lần thứ 1 Diamond Award N/A Đoạt giải
Korea Best Dresser Awards lần thứ 25 Nữ diễn viên mặc đẹp nhất lĩnh vực phim điện ảnh N/A Đoạt giải
Blue Dragon Film Awards lần thứ 29 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất My Wife Got Married Đoạt giải
Nữ diễn viên yêu thích nhất Đoạt giải
Cặp đôi xuất sắc nhất với Kim Joo-hyuk Đoạt giải
University Film Festival of Korea lần thứ 4 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải
Korean Film Awards lần thứ 7 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
2009 Baeksang Arts Awards lần thứ 45 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất lĩnh vực phim điện ảnh Đoạt giải
2010 Baeksang Arts Awards lần thứ 46 Giải thưởng InStyle N/A Đoạt giải
Asia-Pacific Producer's Network (APN) Awards lần thứ 5 Giải cho diễn viên nổi bật trong nền điện ảnh châu Á N/A Đoạt giải
Seoul Arts & Culture Awards lần thứ 1 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất White Night Đoạt giải
Blue Dragon Film Awards lần thứ 1 Nữ diễn viên yêu thích nhất Đoạt giải
2012 Baeksang Arts Awards lần thứ 48 Best Actress Spellbound Đề cử
2013 KBS Drama Awards năm 2013 Nữ diễn viên xuất sắc trong phim truyền hình có độ dài trung bình Shark Đề cử
Top nữ diễn viên xuất sắc Đề cử
2014 Liên Hoan Phim Viễn Tưởng Quốc Tế Puchon lần thứ 18 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất - Giải thưởng do các nhà sản xuất điện ảnh Hàn Quốc bình chọn N/A Đoạt giải
Giải thưởng Grand Bell Awards lần thứ 51 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Hải tặc - The Pirates Đoạt giải
Blue Dragon Film Awards lần thứ 35 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Blood and Ties Đề cử
Actors' Night Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Hải tặc - The Pirates Đề cử
2015 51st Baeksang Arts Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất lĩnh vực phim điện ảnh Đề cử
KOPA & NIKON Press Photo Awards Nữ diễn viên Hàn Quốc có gương mặt ăn ảnh nhất Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “10LINE: Actress Son Ye-jin”. 10Asia. Ngày 14 tháng 5 năm 2010. 
  2. ^ a ă â b "Actors and Actresses of Korean Cinema: Son Ye-jin". Koreanfilm.org. Retrieved 2012-04-20.
  3. ^ “A Moment To Remember opens at #1 in Japan”. Korean Film Council. Ngày 25 tháng 10 năm 2005. 
  4. ^ “A Moment to Remember breaks Japanese record”. Korean Film Council. Ngày 14 tháng 12 năm 2005. 
  5. ^ “Son Ye-jin to Star Alongside Bae Yong-joon in New Film”. Korean Film Council. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2004. 
  6. ^ “Films Starring Sohn Ye-jin Attract 10 Mil. Viewers in Korea, Japan”. KBS Global. Ngày 28 tháng 12 năm 2005. 
  7. ^ "Spotlight Shows Lives of Reporters". The Korea Times. ngày 13 tháng 5 năm 2008.
  8. ^ "Spotlight (writer Lee Ki-won, director Kim Do-hoon) premiered on ngày 14 tháng 5 năm 2008". MBC Global Media. ngày 2 tháng 7 năm 2008.
  9. ^ “SON Ye-jin as a Criminal Kingpin”. Korean Film Council. Ngày 26 tháng 7 năm 2007. 
  10. ^ “SON Ye-jin and KIM Myeong-min tangle in Open City”. Korean Film Council. Ngày 14 tháng 1 năm 2008. 
  11. ^ “Alone in Love Review”. Twitch Film. Ngày 1 tháng 9 năm 2006. 
  12. ^ “Actress Son Ye-jin's Movie Picks”. 10Asia. Ngày 23 tháng 12 năm 2011. 
  13. ^ “[Korean Film News] 43rd Baeksang Arts Awards”. Ngày 27 tháng 4 năm 2007. 
  14. ^ "Sports Movie Wins Best Award". The Korea Times. ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  15. ^ "Son Ye-jin, Ko Soo to Bring Mystery Romance". The Korea Times. ngày 21 tháng 10 năm 2009.
  16. ^ “Son Ye-jin: 'Ordinary Sinister Roles Lack Charm'”. KBS Global. Ngày 16 tháng 11 năm 2009. 
  17. ^ “Top Actresses Heading Toward Small Screen”. The Korea Times. Ngày 8 tháng 2 năm 2010. 
  18. ^ “Son Ye-jin says relieved Lee Min-ho "not young-looking" (1)”. 10Asia. Ngày 26 tháng 3 năm 2010. 
  19. ^ “Son Ye-jin says relieved Lee Min-ho "not young-looking" (2)”. 10Asia. Ngày 26 tháng 3 năm 2010. 
  20. ^ “On the set of MBC TV series Personal Taste. 10Asia. Ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  21. ^ Personal Taste will gain flavor, says Son Ye-jin - Part 1”. 10Asia. Ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  22. ^ Personal Taste will gain flavor, says Son Ye-jin - Part 2”. 10Asia. Ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  23. ^ “Son Ye Jin to cameo in the final episode of "Secret Garden"”. Ngày 15 tháng 1 năm 2011. 
  24. ^ "Son Ye Jin Returns to the Big Screen With Rom Com". enewsWorld. ngày 24 tháng 10 năm 2011.
  25. ^ "Sohn Ye Jin: 'I Do Not Like Similar Appearance'". KBS Global. ngày 28 tháng 11 năm 2011.
  26. ^ "Son Ye-jin Eyeing Melodrama After Chilling Romance". The Chosun Ilbo. ngày 1 tháng 12 năm 2011.
  27. ^ "Son Ye-jin casts her spell over new romantic comedy". Korea JoongAng Daily. ngày 2 tháng 12 năm 2011.
  28. ^ "Sweet-faced at 30". The Straits Times. ngày 9 tháng 5 năm 2012.
  29. ^ "Ossakhan Yeonae (Chilly Romance)". Box Office Mojo. Truy cập 2012-04-20.
  30. ^ “Queen of romance returns in disaster flick”. The Korea Herald. Ngày 17 tháng 12 năm 2012. 
  31. ^ “Interview: Son Ye Jin Says She Loves Her 30s”. enewsWorld. Ngày 23 tháng 12 năm 2012. 
  32. ^ “Son Ye-jin a pillar of support in The Tower. Korea JoongAng Daily. Ngày 27 tháng 12 năm 2012. 
  33. ^ “THE TOWER's SOL Kyung-gu & SON Ye-jin: Actors' Experience from the Desperate Survival Drama”. Korean Film Council. Ngày 21 tháng 12 năm 2012. 
  34. ^ “Son Ye-jin returns to the small screen”. Korea JoongAng Daily. Ngày 27 tháng 3 năm 2013. 
  35. ^ “Kim Nam-gil back to being bad”. The Korea Herald. Ngày 22 tháng 5 năm 2013. 
  36. ^ “Kim Nam-gil and Son Ye-jin Returning with Hot Romance and Cold Revenge”. 10Asia. Ngày 23 tháng 5 năm 2013. 
  37. ^ “'Emotional, skirmishing scenes exhausted us': Accomplice actors”. The Korea Herald. Ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  38. ^ “Period Adventure Film PIRATES Set Sail”. Korean Film Council. Ngày 5 tháng 8 năm 2013. 
  39. ^ “Pirate's life for Son Ye-jin”. Korea JoongAng Daily. Ngày 5 tháng 8 năm 2014. 
  40. ^ “Son Ye-jin Jumps into Action in Pirate-Themed Film”. The Chosun Ilbo. Ngày 9 tháng 8 năm 2014. 
  41. ^ Roaring Currents Named This Year's Best Film”. The Chosun Ilbo. Ngày 24 tháng 11 năm 2014. 
  42. ^ “Son Ye-jin to lead in political thriller”. Korea JoongAng Daily. Ngày 19 tháng 8 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]