Tổ Xung Chi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tổ Xung Chi (chữ Hán: 祖沖之; 429-500) là nhà khoa học thời Nam Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đầu tiên trên thế giới tính được số pi chính xác đến 7 chữ số thập phân.[1]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ Xung Chi tự là Văn Viễn (文遠), người đất Vu, Phạm Dương[2]. Ông sống dưới 2 triều đại Lưu TốngNam Tề thời Nam Bắc triều.

Tổ Xung Chi là người tinh thông kinh điển Nho gia, Lão Tử, Trang Tử, nhưng ông nghiên cứu sâu sắc nhất về thiên văn học, lịch pháp, số họckỹ thuật chế tạo đồ vật.

Tính số pi[sửa | sửa mã nguồn]

Thời cổ, tỷ lệ giữa đường trònđường kính được tính bằng tỷ lệ 3/1. Đến thời Đông Hán, Trương Hạnh (78 - 139) cho rằng π là căn bậc 2 của 10. Thời Tào Ngụy (khoảng năm 263), nhà toán học Lưu Huy dùng phương pháp cát tuyến, Lưu Huy tính được chu vi của hình 3072 cạnh nội tiếp, tính ra được giá trị của π là 3,1416, bằng cách tăng số cạnh của đa giác bên trong đường tròn.

Tổ Xung Chi nghiên cứu để tìm ra số pi chính xác cao hơn. Phương pháp tính toán của ông hiện đã thất truyền, nhưng người ta cho rằng phải dùng tới đa giác đều 12288 hoặc 24576 cạnh nội tiếp hình tròn mới tìm ra được số pi như kết quả mà Tổ Xung Chi để lại, theo đó pi nằm trong khoảng từ 3,1415926 đến 3,1415927[1]. Số pi của ông chính xác đến 7 chữ số thập phân sớm nhất trên thế giới, đến 900 năm sau, năm 1427 Al Kasi người Arập mới tìm được số pi với 17 chữ số thập phân.

Các thành tựu khoa học khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tính khối cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Cha con Tổ Xung Chi và Tổ Hằng còn đóng góp vào việc tìm ra công thức tính ra thể tích khối cầu, gọi là Tổ thị công lý, sớm hơn phương Tây 1000 năm[1].

Lịch pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ lịch pháp mới do ông soạn thảo hoàn thành vào năm 462 thời Tống Hiếu Vũ đế (Lưu Tuấn), niên hiệu Đại Minh, do đó được gọi là Đại Minh lịch. Tổ Xung Chi tiếp thu thành quả từ Nguyên Gia lịch do Hà Thừa Thiên soạn thời Tống Văn đế, niên hiệu Nguyên Gia.

Nhận thấy Nguyên Gia lịch còn nhiều sai sót, ông tham khảo thêm phương pháp của Ngu Hỷ đời nhà Tấn; sau đó tiếp thu học thuyết 600 năm có 221 tháng nhuận (thuyết trước đó là 19 năm có 7 tháng nhuận) do Thái sử lệnh Triệu Phỉ nước Bắc Lương (Ngũ Hồ thập lục quốc) sáng tạo ra. Trên cơ sở đó, ông đổi lại thành quy luật cứ 391 năm thì có 144 tháng nhuận. Đại Minh lịch của Tổ Xung Chi tính được một năm có 365,24281481 ngày, nhỏ hơn so với tính toán của Nguyên Gia lịch về quỹ đạo Trái Đất đi quanh Mặt Trời rất nhiều[1].

Ban đầu bộ lịch pháp của ông bị các đại thần do Đái Pháp Hưng đứng đầu phản đối nên bị gác lại. Sau khi ông mất, đến năm 510, con ông là Tổ Hằng dâng sớ tranh luận, Lương Vũ đế chuẩn y cho ban hành.

Phục chế Xe chỉ nam[sửa | sửa mã nguồn]

Xe chỉ nam vốn khác với kim chỉ nam, không dùng nam châm mà chỉ dựa vào tác dụng của bánh xe răng cưa, khiến ngón tay chỉ phương hướng của người gỗ gắn trên xe không bao giờ đổi hướng. Người sáng tạo ra xe chỉ nam là Mã Quân đời Tào Ngụy (Tam Quốc). Sau đó Lệnh Hồ Sinh nước Hậu Tần (384 – 417) thời Ngũ Hồ thập lục quốc tạo ra một chiếc xe như vậy cho vua Hậu Tần Diêu Hưng.

Năm 417, Lưu Dụ diệt Hậu Tần, mang chiếc xe làm chiến lợi phẩm về Kiến Khang, nhưng máy móc chiếc xe bị hư hỏng, khi xe di chuyển thì ngón tay người gỗ không di chuyển theo. Đến cuối thời Lưu Tống, Tiêu Đạo Thành nắm quyền trong triều Lưu Tống sai Tổ Xung Chi sửa xe đó. Ông dùng đồng chế ra máy mới, xoay chuyển được như xe đời trước.

Ngoài ra, tương truyền Tổ Xung Chi còn chế tạo ra Thuyền thiên lý, cho đi thử trên sông, một ngày có thể đi hơn 100 dặm, nhưng sách vở để lại ghi chép không rõ ràng nên không rõ dùng động lực nào để đẩy thuyền đi[1].

Tổ Xung Chi mất vào năm 500 thời Tề Hòa đế, thọ 72 tuổi.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thẩm Khởi Vĩ (2007), Kể chuyện Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, NXB Đà Nẵng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thẩm Khởi Vĩ, sách đã dẫn, tr 563 - 564
  2. ^ Lai Thủy, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay