Thánh Đức Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Thánh Đức Vương
Hangul 성덕왕
Hanja 聖德王
Romaja quốc ngữ Seongdeok Wang
McCune–Reischauer Sŏngdŏk Wang
Hán-Việt Thánh Đức Vương

Thánh Đức Vương (trị vì 702737) là quốc vương thứ 33 của vương quốc Tân La. Ông là vương tử thứ hai của Thần Văn Vương, và là đệ của Hiếu Chiêu Vương. Năm 704, Thánh Đức kết hôn với Bùi Chiêu (Baeso) phu nhân (về sau trở thành Thành Trinh (Seongjeong) vương hậu), con gái của Kim Nguyên Thái (Gim Wontae). Năm 715, con trai ông là Trọng Thành (Junggyeong 重慶), được phong làm thái tử. Ngay sau đó, vì lý do chưa rõ ràng song đã nhanh chóng có một cuộc tranh giành quyền lực trong triều đình giữa quốc vương là gia tộc của vương hậu, Vương hậu Thành Trinh bị đuổi khỏi cung vào năm 716. Thêm bằng chứng cho một cuộc tranh giành quyền lực có thể đã xảy ra là vào năm sau, thái tử Trọng Thành đã chết trong hoàn cảnh không rõ nguyên nhân. Sau khi chấm dứt với vị vương hậu đầu tiên, Thánh Đức Vương đã kết hôn với Chiếu Đức (Sodeok) năm 720, con gái của y xan Kim Thuận Nguyên (Gim Sun-won). Hiếu Thành VươngCảnh Đức Vương đều là nhi tử của Thánh Đức Vương và Chiếu Đức vương hậu.

Mặc dù sự tranh giành quyền lực giữa triều đình vương thất và giới quý tộc vẫn tiếp tục diễn ra, thời kỳ trị vì của Thánh Đức Vương được hầu hết các học giả Triều Tiên nhìn nhận là đỉnh cao của thời kỳ Tân La Thống nhất. Quan hệ giữa Tân La và nhà Đường đạt mức độ hợp tác chưa từng có. Điều này diễn ra sau những năm đối đầu và cạnh tranh quyền bá chủ tại Triều Tiên, nhà Đường đã nhận thấy rằng Tân La nên trở thành một đồng minh ở bên cạnh thay vì là đối thủ, trong một thời kỳ mà nhà Đường phải đối mặt với các thách thức liên tục đối với quyền lực của mình tại vùng viễn tây và trên các thảo nguyên phương Bắc – như Thổ Phồn, Mạt Hạt, quân Hồi giáo nổi lên ở Trung Á, cũng như vương quốc Bột Hải, đất nước xuất hiện vào cuối thế kỷ 7 với vị thế là quốc gia kế thừa của Cao Câu Ly. Do gặp phải khó khăn với một Bột Hải ngày càng đối đầu, thậm chí từng tấn công Đường bằng đường biển vào năm 733), năm 733, hoàng đế Đường Huyền Tông đã phong cho Thánh Đức Vương làm Ninh Hải quân sứ (Ninghai junshi 寧海軍使) với lệnh trừng phạt nhà nước Bột Hải/Mạt Hạt. Mặc dù Thánh Đức Vương trên thực tế đã khởi động một chiến dịch Bắc tiến cùng năm, song nó đã bị một trận bão tuyết cản trở.

Tân La cũng quan tâm đến sự nổi lên của Bột Hải. Năm 721 Thánh Đức đã cho xây một bức trường thành tại biên giới phía bắc của Tân La. Chứng tích của bức tường vẫn có thể tiếp cận tại tỉnh Hamgyong Nam ngày nay. Do sự quấy nhiễu của hải tặc Nhật Bản ở vùng ven biển phía nam, năm sau (và rất có thể với những nô bộc tương tự) Thánh Đức cũng cho xây một thành lớn gần kinh đô Gyeongju và có chu vi lên đến 10 km. Theo Tam quốc di sự (Samguk Yusa), một bộ sử Triều Tiên vào thế kỷ 13 thuật về lịch sử và truyền thuyết thì việc xây thành cần đến 40.000 nam, và điều này cũng là một điều chứng nhận cho nền quân chủ tập trung bấy giờ.

Trong thời kỳ trị vì của Thánh Đức, triều đình vẫn tiếp tục các nỗ lực cải cách hệ thống đất đai tại Tân La. Việc giải tán các "đinh điền" (jeongjeon 丁田) được đề cập là diễn ra lần đầu dưới thời Thần Văn Vương (722). Bản chất của việc này vẫn còn tranh luận do không có các chứng cứ cong lại. Tuy nhiên, dựa trên tên gọi, có vẻ như đất đai có thể được phân cho các bình dân, không rõ có được sở hữu hoàn toàn hay không. Trong bất cứ trường hợp nào thì việc này thể hiện nỗ lực của triều đình nhằm củng cố quyền lực của mình bằng cách mối quan hệ với nông dân đang bị tầng lớp quý tộc nắm giữ đất đai.

Trong thời kỳ đỉnh cao của vương quốc tương ứng với giai đoạn trị vì của Thánh Đức, trong một biểu hiện cải thiện quan hệ với nhà Đường, năm 735 Đường Huyền Tông đã chính thức trao cho Tân La vùng lãnh thổ phía nam sông Đại Đồng, vùng đất được Đường quản lý ít nhất là từ thế kỷ 7 trong các chiến dịch của họ với Tân La nhằm đánh bại Cao Câu Ly.

Thời kỳ trị vị của Thánh Đức là một giai đoạn tương đối thịnh vượng và hòa bình. Như một học giả Hàn Quốc đã nhận xét, trong thời ông trị vì "...quyền thế tối cao của ngai vàng cuối cùng đã được bảo đảm, và với việc này vương quốc cuối cùng có thể tận hưởng sự thanh bình ở trong nước một cách bất thường.".[1]

Về ngày mất của Thánh Đức Vương, sử sách Trung Hoa đương thời ghi rằng đó là tháng thứ hai của năm 737, một sứ thần Đường để sắc phong cho người kế vị Thánh Đức (tức Hiếu Thành Vương) làm quốc vương Tân La, và được xác nhận rằng Thánh Đức Vương thực tế mất năm 736.[2]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lee, Ki–baik, A New History of Korea. Tr. by E.W. Wagner & E.J. Shultz, based on the Korean rev. ed. of 1979. (Seoul: Ilchogak, 1984). ISBN 89-337-0204-0
  2. ^ Michael C. Rogers, "The Thanatochronology of Some Kings of Silla", Monumenta Serica, 29 (1960), p. 336–337.