Thỏ Amami

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thỏ Amani[1]
Pentalagus furnessi
Amami rabbit Stuffed specimen.jpg
Mẫu vật thỏ Amami nhồi bông ở Bảo tàng Khoa học và Tự nhiên Quốc gia tại Tokyo, Nhật Bản.
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Lagomorpha
Họ (familia)Leporidae
Chi (genus)Pentalagus
Lyon, 1904
Loài (species)P. furnessi
Danh pháp hai phần
Pentalagus furnessi
(Stone, 1900)
Phân bố của thỏ Amami
Phân bố của thỏ Amami

Thỏ Amami (Pentalagus furnessi; tiếng Amami[ʔosaɡi]), hay Amamino kuro usagi (アマミノクロウサギ 奄美野黒兔 Amamino kuro usagi?, nghĩa "thỏ rừng đen Amami"), còn gọi là thỏ Ryukyu, là một loài thỏ lông tối màu sống trên Amami ŌshimaToku-no-Shima, hai đảo nằm giữa KyūshūOkinawa, thuộc địa phận tỉnh Kagoshima (dù gần Okinawa hơn). Mang danh hóa thạch sống, thỏ Amami là phần sót lại của thứ thỏ từng sống trên đất liền châu Á, nay sinh sống trên hai đảo nhỏ Nhật Bản.[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Về thỏ Amami được suy đoán rằng hàng ngàn con đang sinh sống có nguy cơ bị tuyệt chủng, Bộ Tài nguyên Môi Trường vào thời điểm năm 2015 đã thu thập kết quả ước tính phục hồi khoảng 5000 đến 39000 con chỉ riêng đảo Amami (huyện Kagoshima). Bộ này đang hướng đến mục tiêu đánh giá lại xếp hạng nguy cơ tuyệt chủng năm 2011 sẽ thấp hơn so với thời điểm hiện tại.

Theo tư liệu mà Bộ Tài nguyên Môi trường tiết lộ đáp ứng yêu cầu công khai thông tin của báo Asahi, sau khi tính toán lượng phân thỏ mà họ phát hiện trên đảo Amami, thì số thỏ ước tính sống tại thời điểm năm 2003 là khoảng 15221 đến 19202 con. Cuộc điều tra lượng phân trên đảo Amami được tổ chức từ năm 1994 tổng cộng đã thực hiện được 24 tuyến trong năm 2003.

Hơn nữa, sau khi ước tính bổ sung dữ liệu chụp ảnh 9 năm cho những chiếc camera mà họ lắp đặt trong khu rừng trên đảo, họ đã tính được 16580 con thỏ đến 39780 con thỏ.


  1. ^ Hoffman, R. S.; Smith, A. T. (2005). “Order Lagomorpha”. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World (ấn bản 3). Johns Hopkins University Press. tr. 206. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  2. ^ Yamada, F; Sugimura, K. (2008). Pentalagus furnessi. The IUCN Red List of Threatened Species (IUCN) 2008: e.T16559A6063719. doi:10.2305/IUCN.UK.2008.RLTS.T16559A6063719.en. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2016.  Listed as Endangered (B1ab(ii,iii,v)+2ab(ii,iii,v)
  3. ^ Robinson, T.; Yang, F. & Harrison, W. (2002). “Chromosome painting refines the history of genome evolution in hares and rabbits (order Lagomorpha)”. Cytogenetic and Genome Research 96 (1–4): 223–227. PMID 12438803. doi:10.1159/000063034.