Đông Tiến
|
Đông Tiến
|
||
|---|---|---|
| Phường | ||
| Hành chính | ||
| Quốc gia | ||
| Vùng | Bắc Trung Bộ | |
| Tỉnh | Thanh Hóa | |
| Trụ sở UBND | Tổ dân phố Liên Minh | |
| Lịch sử hình thành | ||
| Thành lập | 16 tháng 6 năm 2025[1] | |
| Địa lý | ||
| Tọa độ: 19°51′05″B 105°43′55″Đ / 19,85138292212°B 105,73203524617°Đ | ||
|
| ||
| Diện tích | 41,97 km²[2] | |
| Dân số (2024) | ||
| Tổng cộng | 57.844 người[2] | |
| Mật độ | 1.378 người/km² | |
| Khác | ||
| Mã hành chính | 15853[3] | |
| Mã bưu chính | 40807 | |
| Website | dongtien | |
Địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]Phường Đông Tiến nằm ở trung tâm vùng đồng bằng phía đông của tỉnh Thanh Hóa, phía tây nam của ngã ba Giàng, có vị trí địa lý:
- Phía bắc giáp các xã Thiệu Quang, Thiệu Hóa, Hoằng Giang với ranh giới là sông Chu và sông Mã
- Phía đông giáp phường Hàm Rồng
- Phía nam giáp các phường Đông Sơn và Hạc Thành
- Phía tây giáp xã Thiệu Trung.
Phường Đông Tiến có diện tích tự nhiên 41,97 km², quy mô dân số năm 2024 là 57.844 người,[2] mật độ dân số đạt 1.378 người/km².
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Địa giới hành chính phường Đông Tiến trước đây vốn là các xã, phường phía tây bắc của thành phố Thanh Hóa và một số xã phía đông nam huyện Thiệu Hóa.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, thành phố Thanh Hóa và huyện Thiệu Hóa bị giải thể do bỏ cấp huyện; phường Đông Tiến được thành lập theo Nghị quyết số 1686/NQ-UBTVQH15[1] của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trên cơ sở sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của:
- 2 phường Đông Lĩnh, Thiệu Khánh và 3 xã Đông Thanh, Thiệu Vân, Đông Tiến thuộc thành phố Thanh Hóa
- 2 xã Tân Châu, Thiệu Giao thuộc huyện Thiệu Hóa.
Hành chính
[sửa | sửa mã nguồn]Phường Đông Tiến có 58 tổ dân phố.[4] Dưới đây là danh sách các tổ dân phố theo địa giới từng xã, phường cũ:
| Mã | Tên xã/phường | Hành chính[5][6] | |
|---|---|---|---|
| Số lượng | Danh sách | ||
| 15847 | Tân Châu | 9 tổ dân phố | Đắc Châu 1, Đắc Châu 2, Phú Văn, Tân Giang, Tân Sơn, Thọ Sơn 1, Thọ Sơn 2, Trung Thắng, Yên Tân[a] |
| 15850 | Thiệu Vân | 6 tổ dân phố | Đại Đồng Vân, Hiền Lâm, Ninh Hòa, Vân Tập 1, Vân Tập 2, Vân Tập 3[b] |
| 15853 | Thiệu Giao | 8 tổ dân phố | Bình Minh, Đại Đồng, Đồng Lực, Đồng Tâm, Giao Đông, Giao Sơn, Giao Thành, Liên Minh |
| 15856 | Thiệu Khánh | 9 tổ dân phố[7] | Dinh Xá, Đại Khánh 1, Đại Khánh 2, Đại Khánh 3, Giang Thanh, Phú Ân, Thanh Dương 1, Thanh Dương 2, Thanh Dương 3[c] |
| 16396 | Đông Lĩnh | 12 tổ dân phố[7] | Đông, Hồ Thôn, Lợi, Nguyên Hạnh, Phú, Quý, Quyết, Sơn, Tân Lương, Tân Tiến, Thắng, Vĩnh Ngọc |
| 16402 | Đông Thanh | 8 tổ dân phố | Cần, Kiệm, Kim Bôi, Ngọc Tích, Phúc Triền 1, Phúc Triền 2, Quỳnh Bôi 1, Quỳnh Bôi 2 |
| 16405 | Đông Tiến | 6 tổ dân phố | Hiệp Khởi, Kim Sơn, Nhuận Thạch, Triệu Tiền, Triệu Xá 1, Triệu Xá 2 |
Di tích – danh thắng
[sửa | sửa mã nguồn]Di chỉ khảo cổ
[sửa | sửa mã nguồn]- Di chỉ Đồng Ngầm: được phát hiện năm 1974, tại thôn Nhuận Thạch. Di chỉ rộng 36.000 m², các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật với diện tích 16 m². Tầng văn hóa dày 1,60 m, chia làm 2 lớp trên và dưới đều nhau. Hiện vật có 23 đồ đá như rìu tứ giác, chày nghiền, đục, mảnh vòng; 17 đồ đồng như: rìu, khuyên tai, bao tay, vòng, giáo minh khí, mảnh thạp. Phát hiện mộ vò 2 nồi úp nhau đồ tuỳ táng là đồ đồng. Vừa là nơi cư trú vừa mộ táng, từ hậu kỳ đá mới đến kim khí. Di chỉ có niên đại thuộc văn hóa khảo cổ học Đông Sơn.
- Di chỉ Đồng Vừng: được phát hiện năm 1975, tại thôn Nhuận Thạch. Di chỉ rộng 1 vạn m², đào thám sát 36 m², tầng văn hoá dày từ 0,40 m đến 0,80 m chia làm 2 lớp. Hiện vật có: đồ đá như rìu tứ diện, khuyên tai; đồ đồng có dao găm; đồ gốm có rất nhiều, đặc biệt là hơn 1 vạn mảnh gốm có hoa văn trang trí giống phong cách gốm Đồng Đậu. Di chỉ thuộc văn hoá đầu thời đại đồ đồng và kéo dài đến trước và sau công nguyên.
- Di chỉ Núi Đọ: nơi tìm thấy một số công cụ bằng đá của người tối cổ ở Việt Nam
- Đình và đền Đắc Châu: được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.[8]
- Đình Phương Chính (thường gọi là đình Vuông) và Nhà thờ Họ Đàm (gốc họ Lê), nằm ở làng Vân Nhưng: được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2015/VH-QĐ ngày 16 tháng 12 năm 1993 của Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)[9]
- Đền thờ Chiêu phúc Đại Vương: Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh[10]
- Đình và đền làng Bản Nguyên thờ thành hoàng[11]
- Từ đường họ Ngô: thờ Ngô Văn Thông, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn 1508[11]
- Chùa Thái Lai ở thôn Sơn Viện.[11]
- Chùa Vồm: là một ngôi chùa được xây dựng vào thế kỷ 19 thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa (trước là phủ Thiệu Thiên), nay thuộc phường Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa; tên chữ là chùa Đại Hùng, dựng khoảng giữa thế kỉ 15, thời Hậu Lê, dựa lưng vào núi. Trước chùa còn có 2 con rồng đá lớn. Tượng Phật Di Đà trong chính diện cao 6m tạc vào vách núi. Bên hông chùa có bậc cấp dẫn lên lưng chừng núi, có phủ thờ mẫu Liễu Hạnh.
- Chùa Đọ.
Các di chỉ khảo cổ học
[sửa | sửa mã nguồn]Di chỉ Bái Man
Di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1975, tại cánh đồng cao phường Đông Lĩnh ngày nay. Di chỉ này thuộc hậu kỳ đá mới. Tầng văn hoá từ 0,15 m đến 0,50 m. Hiện vật có: 37 đồ đá như rìu, khuyên tai, vòng tay, bàn mài, hạt chuỗi; 3881 mảnh gốm, có gốm thô và gốm mịn trang trí vặn thừng, chải dập, chấm oải..., có 62 mảnh chân chạc gốm thuộc hậu kỳ đồ đá mới.
Di chỉ Bái Tê
Di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1973, tại thôn Bản Nguyên. Tầng văn hoá dày từ 0,30 m đến 040 m phát hiện 3 ngôi mộ và 5 hố đất đen. Hiện vật có: 226 đồ đá như: bàn mài, hòn ghè, mảnh khuyên, lõi vòng, chì lưới; đồ đồng có lao, đục vũm và mảnh trống; đồ sắt có lao dài và thỏi sắt; hàng ngàn mảnh gốm vỡ và bi, chì lưới, dọi xe chỉ gốm, chạc gốm và mảnh gốm Hán. Di chỉ có niên đại thuộc văn hoá khảo cổ học Đông Sơn.
Di chỉ Cồn Cấu
Di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1976, tại xóm Tân. Các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật trên diện tích đào 104m2. Tầng văn hoá dày 0m80, gồm 2 lớp: lớp dưới có đồ đá và gốm thô, lớp trên đồ đồng và gốm Hán. Hiện vật có: 157 đồ đá như búa rìu, rìu tứ giác, đục, hòn kê, bàn mài và hàng trăm mảnh vòng và phác vật, khuyên tai; đồ đồng có: 2 rìu xéo, mũi tên và 1 dùi sắt. Di chỉ thuộc văn hoá khảo cổ học Đông Sơn, từ các thế kỷ 2, 3 trước Công Nguyên đến các thế kỷ 2, 3 sau Công Nguyên.
Di chỉ Xóm Rú
Di chỉ khảo cổ học được phát hiện những năm 1970, tại xóm Rú. Di chỉ có diện tích rộng hơn 2000m2, khai quật 175m2, tầng văn hoá dày từ 0,30 m đến 0,50 m. Hiện vật có hơn 40 đồ đá gồm rìu, bàn mài, chì lưới, chày, mảnh tước; ba đồ gốm nguyên là chân giò, đĩa, tượng đầu thú và 11.557 mảnh gốm. Di chỉ có niên đại thuộc văn hoá khảo cổ học Đông Sơn.
Các di chỉ khác
Ngoài các di chỉ nêu trên còn có các di chỉ: Bái Khuýnh, Bái Rắt, Gò Mả Chùa đều thuộc thời kì văn hóa Đông Sơn.[11]
Di tích lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Danh lam thắng cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]- Núi Chiểu hay còn gọi là núi Nhuận Thạch hay Bạch Thạch, hình con ngựa thuộc địa phận làng Thọ Sơn, nay là làng Nhuận Thạch. Núi có hai ngọn, chất đá cứng rắn, sắc đá trắng tinh nên còn gọi là Bạch Thông, dưới núi có mộ Thiều Thốn. Đã được xếp hạng cấp quốc gia.
- Núi Đào: Đã được xếp hạng cấp quốc gia.[12]
Làng Cổ Bôn
[sửa | sửa mã nguồn]Kẻ Bôn hay làng Cổ Bôn hay làng Bôn, là một trong những làng cổ có văn hoá truyền thống đặc sắc, nay thuộc xã Đông Thanh, thành phố Thanh Hóa.
Làng Cổ Bôn được các nhà khảo cổ học khẳng định là một trong những làng cổ ở xứ Thanh. Cổ Bôn nằm trong khu vực trung tâm làng cổ đã được hình thành, phát triển từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn cách ngày nay hơn hai ngàn năm. Trên một doi đất cách làng mấy trăm mét, tại cánh đồng thuộc xã Đông Tiến, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra một dấu vết của hai khu làng cổ tồn tại từ trước khi có văn hóa Đông Sơn và cả sau khi văn hóa Hán bành trướng ở đây.
Khác với đa số các làng quê ở đồng bằng sông Mã, nơi mà người dân thường nói giọng Thanh Hóa đặc trưng với nhiều từ địa phương và một âm vực khá đơn điệu, người dân làng Bôn mặc dù vẫn sử dụng các phương ngữ Thanh Hóa nhưng giọng nói của họ khá giàu âm điệu, trầm bổng và giống với giọng nói của người làng Rủn (thuộc xã Đông Khê ngày nay).
Trò diễn dân gian
[sửa | sửa mã nguồn]Cổ Bôn có cảnh trí tự nhiên, môi trường sinh thái không có gì đặc biệt nhưng thuận lợi cho việc phát triển kinh tế tiểu nông và sinh hoạt văn hoá cộng đồng.
Nét đặc sắc của văn hoá cổ truyền Cổ Bôn là kho tàng văn nghệ dân gian. Cổ Bôn là nơi có khối lượng truyện dân gian và ca dao dân ca phong phú, để lại dấu ấn trong kho tàng văn hoá truyền thống xứ Thanh; nhưng đáng chú ý hơn là hệ thống trò diễn dân gian đặc sắc.
Hàng năm, làng tổ chức hội Bôn vào ngày 20 tháng Giêng. Các thôn rước thành hoàng về sinh Bôn để hội làng. Theo tục lệ cỗ cúng ở hội kẻ Bôn rất to, phải có bánh đầu tằm và bánh chưng to bằng cái mẹt, phải luộc bánh bằng vạc, mỗi vạc luộc được hai cái.
Hội Bôn hằng năm có trò Bôn, là một hệ thống năm trò diễn (ngũ trò): trò tiên cuội, trò Hoà Lan, trò Ngô, trò lăng ba khúc, trò thủy (còn gọi là các trò: ngô phường, lam phường, tiền phường, thủy phường và lăng ba khúc).
Trò Bôn do quan viên trong làng quy định, tuỳ theo tình hình năm mở hội. Nếu định chữ Thượng thì làng tổ chức đánh cờ – đám, nếu định chữ Trung thì kéo trò Bôn, nếu chữ Hạ thì chỉ làm cỗ "bò sống, lợn sống" (tạ lễ bằng thịt sống).
Thành hoàng làng
[sửa | sửa mã nguồn]Làng thờ 4 vị thành hoàng: Thánh Cả, Thánh Phúc, Thánh Quỳnh, Thánh He, trong đó Thánh Cả hiệu là Đế Thích (vua đánh cờ) biểu tượng của một khúc gỗ thiêng, thánh Quỳnh biểu trưng là "Con cáo luôm thuôm", thánh Phúc là một người mồ côi, thánh Hẹ là Đặng quận công Nguyễn Khải.
Đền thờ Nguyễn Văn Nghi
[sửa | sửa mã nguồn]Nguyễn Văn Nghi (1515–1584) người làng Cổ Bôn (nay thuộc xã Đông Thanh) là một vị danh nho thời Lê Trung hưng. Đỗ Nhất giáp Chế khoa năm Giáp Dần (1554) đời vua Lê Trung Tông, ông là thầy dạy của hai đời vua Anh Tông và Thế Tông, giữ nhiều chức vụ quan trọng suốt ba đời vua Lê. Sau khi qua đời, Nguyễn Văn Nghi được vua Lê Thế Tông truy tặng chức Thượng thư bộ Công, ban thụy hiệu Phúc Khê tướng công, cấp ruộng đất để nhân dân lập đền thờ.
Đền thờ Nguyễn Văn Nghi tại xã Đông Thanh được xây dựng từ năm 1617 đời vua Lê Kính Tông, sau đó được các đời con cháu của ông tu bổ và mở rộng. Với diện tích khoảng 3,8 ha, khu đền thờ – lăng mộ được bố trí theo kiểu "nội công ngoại quốc", gồm 2 vòng thành: thành ngoài bằng đất, thành trong bằng đá, cùng với bia đá và các hạng mục kiến trúc khác. Kiến trúc tường thành và cổng vòm bằng đá của di tích được đánh giá là độc đáo, mang nhiều nét tương tự với thành Nhà Hồ khiến ngôi đền còn được coi là một "thành Nhà Hồ thu nhỏ".[13][14]
Đền thờ Nguyễn Văn Nghi được công nhận là di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 1539/VH-QĐ ngày 27 tháng 12 năm 1990 của Bộ Văn hóa – Thông tin.[15]
Các di tích khác
[sửa | sửa mã nguồn]- Đền Bạch Vân Sơn thần và Phủ Mẫu: cụm di tích lịch sử – văn hoá và kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh,[16] nằm ở làng Quỳnh Bôi; do Đăng Quận công Nguyễn Khải xây để thờ Bạch Vân Sơn thần đã giúp ông thắng trận
- Đền Cả (thờ Đế Thích)
- Đền và Miếu Hẹ (làng Kim Bôi), còn gọi là Miễu Kim: thờ Đăng Quận công Nguyễn Khải
- Nhà thờ tiến sĩ Lưu Ngạn Quang (thời Lê có bia ghi danh tại Văn Miếu Hà Nội): thờ tại nhà ông Lưu Kham làng Kim Bôi
- Nhà thờ tiến sĩ Nguyễn Trừng (thế kỉ XVI), làng Ngọc Tích
- Nhà thờ, khu mộ, nhà bia ký các Quận công dòng họ La
- Nhà thờ, bia ký Cao Cử, đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646), làng Ngọc Tích
- Từ đường họ Thiều, thờ Thiều Sĩ Lâm, đỗ tiến sĩ năm 1670
- Mộ và bia ký Lê Nhữ Tốn, khai quốc công thần khởi nghĩa Lam Sơn, ở làng Kim Bôi
- Văn chỉ tứ xã Bôn
- Bia cầu Ngọc Khê
- Văn bia của Phùng Khắc Khoan.[17]
- Đền thờ Hữu thị lang Lê Văn Hiển, đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1508) đời vua Lê Uy Mục ở làng Đại Bái[8]
- Đền thờ Lê Khắc Tháo, sĩ phu Cần Vương cuối thế kỉ 19 ở làng Bái Giao.[8]
Di chỉ khảo cổ học
[sửa | sửa mã nguồn]Di chỉ Cồn Chân Tiên
Di chỉ Cồn Chân Tiên tại thôn Đại Lý, xã Thiệu Vân, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Phát hiện 1981. Có 1 tầng văn hoá độ sâu nhất trong 3 hố đào là 0,70m. Hiện vật thu được: đồ đá gồm rìu mài 45 chiếc, phác vật rìu 133 chiếc và 443 mảnh tước. Đồ gốm gồm các loại nồi, nồi đựng có chân, hòn kê (chân giò), chân gốm, loại hình ống như chân mâm bồng, bàn xoa gốm. Các đồ án và văn trang trí trên gốm khá đa dạng. Thuộc văn hoá khảo cổ học Phùng Nguyên.
Di chỉ Cồn Dà
Di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1973, trên doi đất cao giữa cánh đồng thôn Cổ Bi, xã Thiệu Vân, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Tầng văn hoá 0,60 m đến 0,80 m. Tìm thấy nhiều đồ đồng; thuộc văn hoá khảo cổ học Đông Sơn.
Di tích
[sửa | sửa mã nguồn]- Đình Vân Tập thờ Đức Thánh Cả lập làng.[18]
- Đền Hiền lâm thờ Thần Thiên Cương. Di tích lịch sử VH cấp Tỉnh. Nhưng hiện nay thờ cả phật, ngoài ra còn thờ gì đó không rõ danh tính. Đề nghị các cấp có thẩm quyền vào Cuộc để chấn chỉnh.
- Nghè Vân Tập thờ Cao Sơn và Thánh mẫu.[18]
- Đền Cổ Ninh: Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.[19]
- Chùa Báo Ân làng Đại Lý: Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.
Nhân vật nổi bật
[sửa | sửa mã nguồn]- Nguyễn Văn Nghi (1515 – 1584), là một danh nho tiêu biểu thời Lê Trung Hưng.
- Tướng quân Thiều Thốn (làng Triệu Tiền).
- Triệu Bôn: nhà văn Việt Nam. Tên thật là Lê Văn Sửu, ở làng Kim Bôi.
- Nguyễn Văn Nghi: Thái bảo Đông các Đại học sĩ, làm Lại bộ Tả thị lang đời vua Lê Trang Tông.
- Đăng Quận công Nguyễn Khải, con của Nguyễn Văn Nghi.
- Lưu Ngạn Quang: Hoàng giáp tiến sĩ (thời Lê), ở làng Kim Bôi.
- Nguyễn Trừng: tiến sĩ thế kỉ XVI, làng Ngọc Tích.
- Cao Cử (người làng Ngọc Tích). Đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất năm 1646. Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
- Thiều Sĩ Lâm, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
- Lê Nhữ Tốn, khai quốc công thần khởi nghĩa Lam Sơn.
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Các thôn 1, 2, 3 thuộc xã Tân Châu (cũ) được chuyển lần lượt thành các tổ dân phố: Tân Giang, Tân Sơn, Trung Thắng.
- ↑ Các thôn được đánh số từ 1 đến 6 thuộc xã Thiệu Vân (cũ) được chuyển lần lượt thành các tổ dân phố: Vân Tập 1, Vân Tập 2, Vân Tập 3, Hiền Lâm, Ninh Hòa, Đại Đồng Vân.
- ↑ Các tổ dân phố 3, 4, 5, 7, 8, 9 thuộc phường Thiệu Khánh (cũ) được đổi tên lần lượt thành các tổ dân phố: Đại Khánh 1, Đại Khánh 2, Đại Khánh 3, Thanh Dương 1, Thanh Dương 2, Thanh Dương 3.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 16 tháng 6 năm 2025). "Nghị quyết số 1686/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Thanh Hóa năm 2025". Cổng Thông tin điện tử Quốc hội. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 3 Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa (ngày 25 tháng 4 năm 2025). "Nghị quyết số 646/NQ-HĐND về chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Thanh Hóa năm 2025" (PDF). Cổng thông tin điện tử của Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Thủ tướng Chính phủ (ngày 30 tháng 6 năm 2025). "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Trung tâm cung ứng dịch vụ công (ngày 31 tháng 7 năm 2025). "Phường Đông Tiến triển khai lấy ý kiến cử tri đối với phương án đổi tên các thôn, tổ dân phố có tên trùng nhau trên địa bàn phường". Cổng thông tin điện tử phường Đông Tiến, tỉnh Thanh Hóa. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.[liên kết hỏng]
- ↑ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (ngày 8 tháng 4 năm 2020). "Quyết định 1238/QĐ-UBND năm 2020 về việc phân loại thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Phường Đông Tiến tỉnh Thanh Hóa (ngày 10 tháng 10 năm 2025). "📢 THÔNG BÁO VỀ VIỆC ĐỔI TÊN CÁC PHỐ/THÔN TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG ĐÔNG TIẾN". Facebook. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.
- 1 2 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (ngày 23 tháng 8 năm 2021). "Quyết định số 3215/QĐ-UBND về việc chuyển thôn thành tổ dân phố tại các phường thuộc thành phố Thanh Hóa và thị trấn thuộc huyện Yên Định" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2024.
- 1 2 3 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "LangThanhhoaI142" - ↑ "Danh sách di tích cấp quốc gia thuộc tỉnh Thanh Hoá". binhthuan.gov.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2010.
- ↑ Quyết định số 255/QĐ-CT ngày 28 tháng 1 năm 2004 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá
- 1 2 3 4 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "LangThanhhoaII" - 1 2 Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2001), tr. 50.
- ↑ Lê Hoàng (ngày 27 tháng 6 năm 2023). "Đền cổ 400 năm được mệnh danh 'thành nhà Hồ thu nhỏ'". Báo điện tử VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2025.
- ↑ Thảo Linh (ngày 17 tháng 11 năm 2019). "Có một "Thành Nhà Hồ thu nhỏ" ở xứ Thanh". Báo Thanh Hóa điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2025.
- ↑ Phương Liên - Minh Đức (ngày 7 tháng 12 năm 2023). "Từ xa xưa kể lại". Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2025.
- ↑ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (ngày 25 tháng 12 năm 2007). "Quyết định số 4109/QĐ-UBND về việc xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh". Hệ thống văn bản pháp luật tỉnh Thanh Hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2025.
- ↑ Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2001).
- 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "LangThanhhoaI" - ↑ Quyết định số 178/QĐ-UBND ngày 20 tháng 1 năm 2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá