Nam Ngạn (phường)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Nam Ngạn là một phường nằm phía đông bắc thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam.

Nam Ngạn

Phường
Hành chính
VùngBắc Trung Bộ
TỉnhThanh Hóa
Thành phốThanh Hóa
Thành lập1994
Địa lý
Diện tích1,58 km²[1]
Dân số (1999)
Tổng cộng8.475 người
Mật độ5.363 người/km²
Khác
Mã hành chính14761

Thông tin địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Diện tích và dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Cổng thông tin điện tử thành phố Thanh Hóa, phường Nam Ngạn có diện tích 1,58 km² và dân số 8.475 người[1].

Một văn bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết phường Nam Ngạn có diện tích 2,64 km²[2]. Theo Tổng điều tra dân số năm 1999, phường Nam Ngạn có dân số 9.827 người[2].

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phường Nam Ngạn được bao bọc bởi ba con sông: phía bắc là Sông Mã, phía đông có sông Cầu Cốc, phía tây là sông Thọ Hạc.

Địa giới hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Phường Nam Ngạn được chia thành 17 phố (khu phố): Nam Ngạn 1, Nam Ngạn 2, Nam Ngạn 3, Nam Ngạn 4, Tân Nam, Tân Hưng, Tân Hà, Tiền Phong, Hạnh Phúc, Thống Sơn, Tân Sơn 1, Tân Sơn 2, Nam Sơn 1, Nam Sơn 2, Nguyễn Mộng Tuân 1, Nguyễn Mộng Tuân 2, Nguyễn Mộng Tuân 3.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Trước cách mạng tháng Tám (1945), phường Nam Ngạn gồm làng Nam Ngạn và một xóm của làng Hương Bào Nội, một xóm của làng Đức Thọ Vạn và ấp Văn Tập, các làng và ấp này đều thuộc tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Sau cách mạng tháng Tám đến giữa năm 1946, thuộc xã Nam Sơn Thọ và từ năm 1946 đến năm 1954 thuộc xã Đông Thọ, đều thuộc huyện Đông Sơn. Từ cuối năm 1954, xã Đông Thọ chia thành hai xã là Đông Thọ (mới) và Đông Giang, Nam Ngạn thuộc xã Đông Giang [3].

Năm 1963, xã Đông Giang sáp nhập vào thị xã Thanh Hóa[4] và thành lập tiểu khu Nam Ngạn trên cơ sở phần còn lại của xã Đông Giang. Tháng 8 năm 1981, cùng với các tiểu khu khác, tiểu khu Nam Ngạn trở thành phường Nam Ngạn[5].

Tháng 6 năm 1994, phường Nam Ngạn được tách thành phường Nam Ngạn (mới) và phường Trường Thi[6].

Chiến tranh chống Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Kỳ tích bắn rơi 47 chiếc máy bay hiện đại của Mỹ trong 2 ngày 3 - 4/4/1965 có đóng góp không nhỏ của quân và dân phường Nam Ngạn.Trong trận chiến đấu đó, chị Ngô Thị Tuyển và đại đội dân quân Nam Ngạn đã được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.[7]

Ngày 14/6/1972 trên đoạn đê Sông Mã thuộc địa phận 2 làng Nam Ngạn và Hàm Rồng, gần 400 dân công đã hy sinh do bom Mỹ trong quá trình đắp đê. Trong đó có hơn 300 các cô gái ở lứa tuổi đôi mươi là các nữ sinh, giáo sinh, giáo viên ở các trường trung cấp thương nghiệp, trung cấp Y Thanh Hóa... Một công trình tưởng niệm chuẩn bị được xây dựng để tưởng nhớ những người đã ngã xuống. [8]

Nhân dân Nam Ngạn đã phải chịu những thiệt hại rất to lớn trong chiến tranh chống Mỹ. 2 lần bị máy bay B52 rải thảm, 6 lần bị pháo kích từ biển vào, tổng cộng đã có 3.550 quả bom các loại, trong đó có 627 quả bom phá, 58 quả bom nổ chậm, hàng ngàn quả bom bi, đạn rốc két và các loại bom đạn khác; làm cho hàng trăm người chết, hàng trăm ngôi nhà bị phá hủy, hàng chục mẫu ruộng biến thành hố bom, bình quân mỗi người dân Nam Ngạn phải hứng chịu 13 quả bom[1].

Sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình khắc phục khó khăn sau chiến tranh ác liệt, xây dựng lại quê hương của nhân dân Nam Ngạn đã đạt được những thành tựu to lớn. Tháng 9/1999 Đảng bộ phường Nam Ngạn được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân[1].

Di tích lịch sử, văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật chí[sửa | sửa mã nguồn]

Một đoạn đê sông Mã,nơi gần 400 dân công đã hy sinh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Phường Nam Ngạn”. Cổng thông tin điện tử thành phố Thanh Hóa. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  2. ^ a ă Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ
  3. ^ a ă Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá. Tên làng xã Thanh Hoá, tập II. Nhà xuất bản Thanh Hoá, 2001. tr. 179-180. 
  4. ^ Quyết định số 30/CP ngày 13 tháng 6 năm 1963 của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  5. ^ Quyết định số 511/CT/UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
  6. ^ Nghị định số 55/CP ngày 28/6/1994 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam.
  7. ^ Website Tuổi trẻ Thanh Hóa.
  8. ^ Ký ức của thiếu tướng Lê Mã Lương

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]