Trần Quý Kiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ảnh Trần Quý Kiên trong tù của thực dân Pháp năm 1940.

Trần Quý Kiên (1911-1965, tên khai sinh: Đinh Xuân Nhạ) là chính khách và là lớp lãnh đạo sớm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng viên 5.1930 .Năm 1938-1939-1940 ông là Bí thư thành ủy Hà Nội, thường vụ Xứ Ủy Bắc Kỳ. Năm 1945, ông là Bí thư khu ủy Chiến Khu Quang Trung. Năm 1950, ông là Bí thư Đảng ủy khối cơ quan Dân Chính Đảng Trung ương, đồng thời tham gia vào chính phủ của Thủ tướng Hồ Chí Minh với tư cách Thứ trưởng - phó văn phòng Thủ tướng phủ. Năm 1951, ông kiêm thêm phó trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng.[1]

Quá trình tham gia cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Đinh Xuân Nhạ sinh năm 1911 tại Bến Nứa, Hà Nội, gốc là người dòng họ Đinh Xuân ở làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội). Khi hoạt động cách mạng, ông lấy tên là Trần Quý Kiên. Năm 1929, Đinh Xuân Nhạ tham gia phong trào đấu tranh lúc 18 tuổi , là đảng viên lớp đầu tiên khi Đảng vừa thành lập 3.2.1930 . Ông gia nhập Đảng CSVN 5.1930 , hoạt động trong đội Tuyên truyền Xung phong (tổ chức tiền thân của ban Tuyên huấn Thành ủy Hà Nội sau này) [2].

Tháng 10.1930, Đinh Xuân Nhạ phụ trách một nhóm xung kích của Đảng diễn thuyết tại trường Bách Nghệ Hà Nội, kêu gọi phong trào yêu nước, đuổi Thực dân Pháp ủng hộ phong trào đấu tranh của đồng bào Xô Viết Nghệ Tĩnh[3]. Thực dân Pháp bắt được Đinh Xuân Nhạ và kết án ông 10 năm tù, giam tại nhà tù Hỏa lò, rồi chuyển đi Hải Phòng để chuyển tiếp đi nhà tù Côn Đảo. Tại nhà tù Hải Phòng 21/12/1931 nhóm cộng sản của ông gồm có: Trần Quý Kiên(Đinh Xuân Nhạ), Lê Thanh Nghị, Lê Duẩn, Vũ Thiện Chân, Khuất Duy Tiến.... cùng nhiều tù nhân Quốc dân Đảng và những tù nhân khác dùng vũ khí thô sơ tự có đánh lại cai tù thực dân xâm lược [4]. Chúng bắn chết 9 người và chuyển những người tù còn lại về lại Hỏa lò.

Năm 1936 ra tù Trần Quý Kiên lại bắt được liên lạc với những đồng chí bất khuất Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Trường Chinh, Tô Hiệu, Hoàng Văn Nọn,....v.v và tiếp tục hoạt động Cách mạng.

Tháng 8.1936, Trần Quý Kiên là một trong ba người chủ chốt ,cùng hai đồng chí của mình [Nguyễn Văn Cừ]] (tổng bí thư của đảng 1938-1941) và Nguyễn Văn Minh (một đảng viên cộng sản vừa từ nước Nga về) thành lập ra Ủy ban Sáng Kiến cơ quan lãnh đạo lâm thời của Xứ ủy Bắc Kỳ (cuộc họp này của ba ông được tổ chức tại một thửa ruộng ở Gia Lâm Hà Nội).Ủy ban Sáng Kiến có trách nhiệm khôi phục lại Thành ủy Hà Nội, thành ủy Hải phòng và tổ chức đảng ở các địa phương khác. Từ Ủy ban Sáng Kiến ba ông đã quy tụ được nhiều hạt giống ưu tú của đảng vừa ở tù ra, trong đó có Nguyễn Văn Linh (sau này là Tổng Bí thư của Đảng 1986 -1991) là đảng viên trẻ được phân công giúp việc cho các lãnh đạo của Ủy ban Sáng kiến[5].

Sau đó Ông và các đồng chí đã kiên trì gây dựng tổ chức thành lập lại hầu hết các cơ quan chủ chốt quan trọng của Đảng tại Bắc Kỳ.

+ Tháng 3.1937 Trần Quý Kiên tham gia tổ chức thành lập lại Xứ Ủy Bắc Kỳ (ông được cử là Xứ Ủy viên Bắc kỳ hoạt động bí mật cùng nhóm với Nguyễn Văn Cừ & Nguyễn Văn Minh. Nhiệm vụ của ba người là khôi phục và phát triển tổ chức đảng ở Hà Nội, miền Trung và các vùng phụ cận).[6]

+ Cũng vào tháng 3.1937, Trần Quý Kiên tham gia tổ chức thành lập lại Thành ủy Hà Nội (Ông giữ cương vị Xứ Ủy viên Bắc Kỳ -Thường vụ Thành Ủy Hà Nội phụ trách về tổ chức và xây dựng cơ sở đảng).[7]

+ Tháng 4.1937, Trần Quý Kiên và Hoàng Quốc Việt là hai Xứ Ủy viên Bắc Kỳ được Xứ Ủy cử xuống tăng cường trực tiếp tổ chức thành lập lại Thành ủy Hải Phòng.[8]

+ Tháng 11.1937 Trần Quý Kiên tham gia tổ chức thành lập Liên Xứ Ủy Bắc Kỳ - Bắc Trung Kỳ (Ông là ủy viên của liên Xứ Ủy và tham gia vào "Ủy ban hành động" cùng hai ông Nguyễn Văn Cừ và Nguyễn Văn minh. Ủy ban này có nhiệm vụ khôi phục và củng cố tổ chức đảng ở miền Bắc).[9]

+ Năm 1938 ở cương vị Thường vụ Xứ Ủy Bắc Kỳ, Bí thư thành ủy Hà Nội Trần Quý Kiên thay mặt cho Xứ Ủy Bắc Kỳ trực tiếp về Đa Phúc (Quốc Oai) công nhận Chi bộ dự bị Đa Phúc là một chi bộ chính thức của Đảng (bí thư chi bộ dự bị này là Phan Trọng Tuệ sau này là phó thủ tướng chính phủ 1973-1976) mở ra bước phát triển mới đối với phong trào Đa Phúc - Thụy Khê làm chỗ dựa vững chắc cho toàn bộ tỉnh Sơn Tây, nơi sau này cùng với tỉnh Hà Đông là An Toàn khu cơ sở để Đảng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc thắng lợi vào tháng 8.1945 [10].

Được sự tín nhiệm, trong năm 1938 Trần Quý Kiên được bầu vào Ban Thường vụ Xứ Ủy Bắc Kỳ (thời gian này đây là ban lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản tại Bắc kỳ lúc này chỉ gồm có ba người là Trần Quý Kiên và hai lãnh đạo khác là Hoàng Văn ThụLương Khánh Thiện)[11]

Năm 1938 Thành ủy Hà Nội kiện toàn. Ngoài trách nhiệm là Thường vụ Xứ Ủy Bắc Kỳ Trần Quý Kiên trực tiếp giữ trọng trách Bí thư Thành Ủy Hà Nội lúc này bao gồm cả hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông (thay cho Lương Khánh Thiện được Đảng cử làm bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Lúc này để tăng cường tổ chức, Đảng còn bổ sung thêm 2 đảng viên rút ra từ phong trào công nhân là Nguyễn Văn TrânVăn Tiến Dũng vào Thành Ủy viên Hà Nội).[1]

Là một trong những người lãnh đạo của Xứ Ủy Bắc KỳThành Ủy Hà Nội, Trần Quý Kiên cùng Ban Thường vụ Xứ Ủy đã chỉ đạo phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động bí mật với hoạt động tuyên truyền công khai (bộ phận báo chí tuyên truyền công khai lúc này tại Hà nội do Trường Chinh - xứ ủy viên phụ trách). Do vậy các cơ sở đảng của Xứ Ủy phát triển nhanh chóng và Đảng đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh, giành được thắng lợi trên nhiều mặt trận. nhiều quần chúng ưu tú đã được ông và những đảng viên khác giác ngộ kết nạp vào đảng tại Hà Nội trong giai đoạn này (1936-1939) như: Hà Kế Tấn (bộ trưởng), Văn Tiến Dũng (đại tướng, Ủy viên Bộ chính trị, bộ trưởng bộ quốc phòng), Nguyễn Văn Trân (bí thư Trung ương Đảng), Trần Đăng Ninh (phó tổng thanh tra chính phủ), Nguyễn Đức Thuận....vv..đã trở thành những lãnh đạo nòng cốt của đất nước.[12]

Trong thời kỳ đảng cộng sản Việt Nam hoạt động bí mật (1930-1945), hai ông Lương khánh Thiện và Đinh Xuân Nhạ (Trần Quý Kiên) là hai Bí thư đã trụ vững lâu nhất ở cương vị Bí thư Thành Ủy Chính Thức của thành phố Hà Nội .

Trong những năm 1930 tới 1940 Trần Quý Kiên là Bí thư thành ủy Hà Nội duy nhất vượt qua máy chém của thực dân Pháp.

Tháng 9.1939 chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, thực dân Pháp đẩy mạnh đàn áp phong trào cách mạng thuộc địa. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ quyết định phân công Trần Quý Kiên (thường vụ xứ ủy, bí thư thành ủy Hà Nội) và Lương Khánh Thiện (bí thư xứ ủy) về xây dựng căn cứ bí mật của đảng tại Phù Ninh Phú thọ.[13]

Tháng 6.1940 trong một lần đi công tác Trần Quý Kiên bị bắt. Trong tù Trần Quý Kiên đã cùng Chu Đình Xưởng, Trần Quốc Hoàn (phó bí thư Hà Nội, sau này là Bộ trưởng Bộ Công an - UVBCT) lãnh đạo tù nhân ở Đề Lao Bắc Giang đấu tranh chống lại sự khủng bố của giặc Pháp vào những năm 1941-1942. Lo sợ, thực dân Pháp đã chuyển Trần Quý Kiên lên nhà tù Sơn La, rồi về Nghĩa Lộ.[14]

Tháng 3-1945 Nhật đảo chính Pháp, dù bị tra tấn và còn yếu, Trần Quý Kiên vẫn cùng với các bạn tù vượt ngục.[15]

Tháng 4.1945 Trần Quý Kiên nhận trách nhiệm Bí thư Chiến khu Quang Trung cùng hai tỉnh khác là Sơn La và Lai châu. Lúc này ông lấy bí danh là Dương Văn Ty. Tháng 8/1945 Trần Quý Kiên cùng Văn Tiến Dũng tổ chức bộ đội và nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi tại ba tỉnh trong chiến khu là Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa [16].

Tháng 9.1945 Văn Tiến Dũng thay ông làm bí thư chiến khu Quang Trung. Ông nhận trách nhiệm mới là đại điện cho chính phủ lãnh đạo một đoàn cán bộ Xứ Ủy Bắc Kỳ lên hai tỉnh xa xôi hiểm nguy là Sơn La và Lai Châu đấu tranh giải phóng hai tỉnh này. Cùng đoàn với Trần Quý Kiên phụ trách về mảng quân sự có ông Lê Trọng Tấn.[17]

Cuối 1946 sức khỏe yếu Trần Quý Kiên về làm Bí thư Tỉnh Ủy tỉnh Quảng Yên (Quảng Ninh) lãnh đạo chống Pháp cùng với Tô Quang Đẩu, Trịnh Tam Tỉnh, Trần Quốc Thảo.

Sau đó Trần Quý Kiên phụ trách đảng ủy của 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. rồi phụ trách đảng ủy của 2 tỉnh Kiến An và Thái Bình.[18]

Ông Trần Quý Kiên và chủ tịch Hồ Chí Minh trong một chuyến công tác.

Năm 1948 Trần Quý Kiên giữ trọng trách Trưởng ban Kiểm Tra Đảng của Liên khu 3 (bao gồm 12 tỉnh đồng bằng bắc bộ và 1 tỉnh miền núi là tỉnh Hoà Bình)[18]

Đến tháng 1.1949, Trần Quý Kiên là người lãnh đạo toàn bộ quân chính đảng của khu vực tả ngạn sông Hồng để đánh phá chia cắt lực lượng quân đội Pháp tại đồng bằng Bắc bộ.

Tháng 7.1949 Trần Quý Kiên là thủ trưởng khu Căn Cứ Địa Trung ương ATK (thủ đô Việt Bắc của CM).[19] (gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang).

Tháng 11.1950 Trần Quý Kiên giữ trọng trách Bí thư Đảng ủy toàn bộ Khối Dân Chính Đảng các cơ quan Trung ương[18] đồng thời tham gia vào chính phủ với tư cách Thứ trưởng phó Văn phòng thủ tướng (lúc này Ông Hồ Chí Minh là Thủ Tướng chính phủ đồng thời Chủ Tịch Nước) .[20]

Tháng 4.1951 Trần Quý Kiên được giao kiêm nhiệm thêm chức Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng cùng với ông Hoàng Quốc Việt,Nguyễn Chí Thanh, Lê Khắc.....(trưởng ban tổ chức là ông Lê Văn Lương).[21]

Cuối năm 1952 bị ốm sau nhiều năm hoạt động Cách mạng liên tục, Trần Quý Kiên được Đảng và Chính phủ đưa đi chữa bệnh ở nước ngoài một thời gian dài.

Về nước khi bệnh tật vừa đỡ Trần Quý Kiên nhận trách nhiệm thay mặt Chủ tịch nước và Thủ tướng đi điều tra sửa sai trong công tác Cải cách ruộng đất tại tỉnh Vĩnh Phúc, trong đó có 1 vụ bị oan sai của gia đình cụ giáo Thao là một gia đình yêu nước. Ông đã điều tra rõ ràng và minh oan cho gia đình cụ giáo, sau đó gia đình cụ còn được Chủ tịch Nước trao tặng huân chương kháng chiến hạng nhất (vì nhà cụ đã có 10 người con cùng đóng góp xương máu tham gia kháng chiến chống Pháp).[22]

Năm 1958 Trần Quý Kiên nhận trách nhiệm Bí thư Đảng Đoàn Thứ trưởng thứ nhất bộ Thủy Lợi và điện lực.[23]

Ông bị bệnh và mất tại Hà Nội năm 1965.

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh đường Trần Quý Kiên tại Hà Nội

Tên ông đã được đặt cho một con đường tại quận Cầu Giấy Hà Nội. Đồng thời Ủy ban Nhân dân tp HCM đã thông báo sắp tới sẽ đặt tên của ông cho một con đường của thành phố Hồ Chí Minh.

Huân chương[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Trần Quý Kiên và vợ (bà Lê Thị Tấn) cùng các con (1963)

Vợ ông là bà Lê Thị Tấn (tức Nguyễn Thị Đáp). Được chính phủ tặng Huân chương Kháng chiến Hạng Nhất và Huy Chương 70 năm tuổi đảng, Huy chương kháng chiến hạng nhất. Ông bà có sáu người con.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă a. Trang 70 Sách Lịch sử Đảng bộ Hà Nội (1930-2000), Nhà xuất bản Hà Nội, 2004; b. Đảng Cộng sản Đông Dương – Thành uỷ Hà Nội 1936-1939, Cổng giao tiếp điện tử thành phố Hà Nội, đăng ngày 22/12/2009; c. Theo trang 160, 162 cuốn Lịch sử Đảng bộ Hà Nội 1926-1945, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật 2012
  2. ^ Đổi mới, sáng tạo trên mặt trận tư tưởng, Báo Hà Nội Mới đăng ngày 03/03/2014
  3. ^ Bài Trần Quý Kiên - Bí thư Thành ủy Hà Nội 1938 - 1939, Nhà xuất bản Hà Nội, đăng ngày 25.1.2016
  4. ^ a. Báo điện tử đảng CSVN Tư liệu văn kiện. Lê Duẩn tiểu sử. Chương 2: Trưởng thành trong đấu tranh cách mạng (1928-1945). Phần 2; b. Làm rõ chi tiết lịch sử về đồng chí Đinh Xuân Nhạ - Báo điện tử Quân đội nhân dân ngày 13/9/2006; c. Theo trang 160, 162 cuốn Lịch sử Đảng bộ Hà Nội 1926-1945, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật 2012
  5. ^ a. Báo điện tử đảng CSVN Tư liệu văn kiện Nguyễn Văn Cừ tiểu sử. Chương 3: Móc nối liên lạc, khôi phục phong trào cách mạng. Phần 1; b. Báo điện tử đảng CSVN Tư liệu văn kiện Nguyễn Văn Linh tiểu sử. Chương 2 Phần 2: Rèn luyện trưởng thành trong đấu tranh cách mạng. 1931-1945; c. Lịch sử biên niên đảng CSVN, tập 2, mục năm 1936 (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2008)
  6. ^ a. Báo điện tử đảng CSVN Tư liệu văn kiện Nguyễn Văn Cừ tiểu sử. Chương 3: Móc nối liên lạc, khôi phục phong trào cách mạng. Phần 1; b. Trang 63, Sách Lịch sử đảng bộ Hà Nội (1930-2000) Nhà xuất bản Hà Nội 2004; và c. Lịch sử biên niên đảng CSVN, tập 2, mục tháng 3-1937 (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2008)
  7. ^ a. Báo điện tử đảng CSVN Tư liệu văn kiện Nguyễn Văn Cừ tiểu sử. Chương 3: Móc nối liên lạc, khôi phục phong trào cách mạng. Phần 1; b. Trang 63, Sách Lịch sử đảng bộ Hà Nội (1930-2000) Nhà xuất bản Hà Nội 2004; và c. Trang 36, Hồi ký "Từ trong bão táp" của Đại tướng Văn Tiến Dũng, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 1990
  8. ^ b. Báo điện tử đảng CSVN Tư liệu văn kiện Nguyễn Văn Linh tiểu sử. Chương 2 Phần 2: Rèn luyện trưởng thành trong đấu tranh cách mạng. 1931-1945
  9. ^ a. Đinh Văn Di - Ông là ai, Báo Văn hóa Nghệ An ngày 4/3/2010; b. Biên niên sử Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1937, Mục Thành lập Liên Xứ ủy Bắc Kỳ- Trung Kỳ
  10. ^ a. Đảng bộ thành phố Hà Nội: Dấu ấn qua các kỳ đại hội, Báo Hà Nội mới đăng ngày 01/11/2015; b. Tài liệu xây dựng cơ quan lãnh đạo cấp trung ương, Xứ ủy của Đảng thời kỳ 1930-1945, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia; c. Theo trang 160, 162 cuốn Lịch sử Đảng bộ Hà Nội 1926-1945, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật 2012
  11. ^ a. Tư liệu lưu trữ của Viện lịch sử Đảng (giấy xác nhận ngày 14/4/2016); b. Theo trang 160, 162 cuốn Lịch sử Đảng bộ Hà Nội 1926-1945, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật 2012
  12. ^ Trang 35, 38 Hồi ký "Từ trong bão táp" của Đại tướng Văn Tiến Dũng, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 1990
  13. ^ a. Đảng bộ huyện Phù Ninh 67 năm xây dựng và phát triển (18/05/1947 - 18/05/2014), trang thông tin điện tử huyện Phù Ninh; b. Trang 75, Những chiến sĩ cộng sản ưu tú và cơ sở cách mạng của Hà Nội, tập 1 - Sách ban chấp hành Đảng bộ Hà Nội - Ban tuyên giáo
  14. ^ Báo điện tử của Đảng CSVN, Tư liệu văn kiện, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (1926- 2005) Chương II: Xây dựng lực lượng tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 (1936 – 8 – 1945)
  15. ^ Trang 172, 174 Hồi ký "Từ trong bão táp" của Đại tướng Văn Tiến Dũng, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 1990
  16. ^ a. Tư liệu Ban Tổ chức Trung ương Đảng CSVN (giấy xác nhận 283 TC/TW 25/4/1997); b. Trang 217-221 Hồi ký "Từ trong bão táp" của Đại tướng Văn Tiến Dũng, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 1990
  17. ^ a. Thủ lĩnh Lò Văn Hặc, Báo Quân đội Nhân dân ngày 08/05/2014; b. Trang 38-50 Hồi ức "Từ Đồng Quan đến Điện Biên" của Đại tướng Lê Trọng Tấn, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 1994
  18. ^ a ă â Tư liệu Ban Tổ chức Trung ương Đảng CSVN (Giấy chứng nhận của Ban tổ chức TW đảng số 283TC/TW ngày 25/4/1997)
  19. ^ a. Lịch sử Biên niên Đảng CSVN - Tập 3, Mục Năm 1949 (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội - 2009); b.Bài báo Người bí thư thành ủy buổi "giao thời" - Báo Sự kiện và Nhân chứng (Nguyệt san Báo Quân đội Nhân dân), số 272, tháng 8/2016
  20. ^ a. Sắc lệnh số 149-SL ngày 6/11/1950 của Chủ tịch nướcb. Những ngày Bác Hồ ở Định Hóa
  21. ^ Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, ngày 16 tháng 4 năm 1951, về việc thành lập các ban và tiểu ban giúp việc
  22. ^ Bài báo Người bí thư thành ủy buổi "giao thời" - Báo Sự kiện và Nhân chứng (Nguyệt san Báo Quân đội Nhân dân), số 272, tháng 8/2016
  23. ^ Lãnh đạo Bộ Thủy lợi và Điện lực (7/1960 – 12/1962)
  24. ^ Quyết định số 666/2003/QĐ/CTN.KT/CT ngày 30/9/2003 v/v truy tặng Huân Chương Hồ Chí Minh cho ông Trần Quý Kiên
  25. ^ Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 73-LCT, truy tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho ông Trần Quý Kiên