Trận Thượng Đức (1974)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Trận Thượng Đức
Một phần của Chiến tranh Việt Nam
Thời gian 28 tháng 07 đến 03 tháng 11 năm 1974
Địa điểm tỉnh Quảng Nam, Việt Nam
Kết quả Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiến thắng
Tham chiến
Flag of the United States.svg Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam
Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
FNL Flag.svg Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
Chỉ huy và lãnh đạo
Flag of South Vietnam.svg Ngô Quang Trưởng
Flag of South Vietnam.svg Nguyễn Quốc Hùng
Flag of South Vietnam.svg Hà Văn Lầu
Flag of South Vietnam.svg Vũ Trung Tín
FNL Flag.svg Nguyễn Văn Chi
FNL Flag.svg Hoàng Đan
Lực lượng
1 Sư đoàn Bộ binh
1 Trung đoàn Bộ binh
2 Trung đoàn lính dù
1 Sư đoàn Biệt động quân (40.000 lính)[1]
3 Trung đoàn (12.000 lính)
Thương vong và tổn thất
Hơn 7.200 chết và bị thương[2]
(Nguyễn Quốc Hùng tử trận, Hà Văn LầuVũ Trung Tín bị bắt)
Theo QĐNDVN: 921 chết, hơn 2000 bị thương[3]
Việt Nam Cộng hòa tuyên bố: 2000 chết, 5000 bị thương.

Trận Thượng Đức là một trận đánh trong Chiến tranh Việt Nam giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt NamQuân lực Việt Nam Cộng hòa tại quận Thượng Đức, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam Cộng Hòa, (khu vực này là huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Đà theo cách chia của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, hiện nay là vùng phía Tây của huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) vào năm 1974 với kết quả là Quân Giải phóng kiểm soát hoàn toàn căn cứ Thượng Đức.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, Quân lực Việt Nam Cộng hòa liên tục có những hành động vi phạm Hiệp định như lấn đất, chiếm dân trong vùng kiểm soát của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tại chiến trường Quảng Nam - Quảng Đà, chỉ hai giờ sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã tập trung càn quét các vùng tây Duy Xuyên, vùng B Đại Lộc và các vùng tranh chấp giữa hai bên. Trong nội thành Đà Nẵng, Quân lực Việt Nam Cộng hòa thành lập lực lượng cảnh sát dã chiến được trang bị đầy đủ thay thế cho quân đội đánh phá các lực lượng cách mạng, lợi dụng thời cơ dồn dân chiếm đất.[4]

Trước tình hình đó, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành đáp trả bằng cách điều Sư đoàn 304 từ Cam Lộ, Quảng Trị vào phối hợp với các đơn vị trong Quân khu 5 từ tháng 5/1974, nhằm diệt một số vị trí Quân lực Việt Nam Cộng hòa lấn chiếm sâu vào vùng giải phóng, xóa bỏ các lõm, tạo thế cho chiến trường Khu 5 và cả nước, trọng tâm là tiêu diệt căn cứ Thượng Đức.

Địa hình tác chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Về địa hình: Thượng Đức ở phía Tây tỉnh Quảng Nam, (thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Đà theo cách phân chia của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam), cách thành phố Đà Nẵng 40 km, là tiểu đồn bảo vệ căn cứ Liên hiệp Quân sự Đà Nẵng. Tại đây Quân lực Việt Nam Cộng hòa dựa vào thế hiểm yếu của địa hình, xây dựng hệ thống phòng thủ vững chắc, có chiều sâu với hệ thống giao thông hào liên hoàn gồm 35 lô cốt nửa chìm nửa nổi. Toàn bộ cơ quan chỉ huy thông tin, hệ thống kho đều nằm sâu trong lòng đất bởi bê tông cốt thép bao bọc dày 20 cm. Nhiều công sự có nắp, hệ thống nhà hầm, hầm ngầm kiên cố có sức chứa 16.000 quân, được mệnh danh là “Mắt ngọc của đầu rồng”, một “cánh cửa thép” của Đà Nẵng. Các năm 1968, 1969, rồi năm 1970, Quân Giải phóng Khu 5 đã 3 lần tiến công Thượng Đức đều bất thành, cứ sau mỗi lần bị đánh, Quân lực Việt Nam Cộng hòa lại rút kinh nghiệm và tăng cường, hệ thống phòng thủ kiên cố, liên hoàn hơn.

Ở Thượng Đức, Quân lực Việt Nam Cộng hòa tổ chức lực lượng bố phòng bao gồm: Tiểu đoàn 79 biệt động; 1 đồn biên phòng; 1 đại đội bảo an; 17 trung đội dân vệ; 1 trung đội pháo binh 105mm; 1 trung đội cảnh sát dã chiến và 1 trung đội thám báo. Toàn bộ lực lượng là 950 lính, do Thiếu tá Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng chỉ huy.

Bảo vệ bên ngoài hệ thống phòng thủ chi khu Quận lỵ Thượng Đức còn có 1 trận địa pháo 105mm 2 khẩu; 2 khẩu cối 106,7mm; 5 khẩu ĐKZ 81mm, 2 khẩu cối 81mm; 7 khẩu cối 60mm; 27 khẩu đại liên M30 - M60. Trên các hướng tây, bắc tây bắc đề phòng bị tấn công, Quân lực Việt Nam Cộng hòa bố trí dày đặc mìn chống tăng và chống bộ binh. Khu trung tâm Thượng Đức có 7 lớp hàng rào rộng từ 70 đến 200m xen kẽ là rào bùng nhùng, rào đơn, rào mái nhà, rào cũi lợn, rào chống tăng, rào phản xung phong. Phía xa hơn Thượng Đức là các trận địa pháo 105mm ở Núi Đất, Ái Nghĩa sẵn sàng chi viện. Khi cần yểm trợ bằng không quân thì trong một ngày ở Đà Nẵng máy bay A37, trực thăng vũ trang tần suất cất cánh 30 đến 40 lần chiếc lên Thượng Đức oanh tạc khu vực nghi có đối phương, hoặc đối phương tiến công chi khu. Ngoài ra, Sư đoàn 3 và Sư đoàn dù Quân lực Việt Nam Cộng hòa là lực lượng dự bị sẵn sàng tăng cường chiến đấu bảo vệ chi khu Quận lỵ Thượng Đức.[1]

Nói về cứ điểm này, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của Việt Nam cộng hòa kiêu hãnh đặt cho tên gọi “Mắt ngọc của đầu Rồng”. Còn Tỉnh trưởng Quảng Nam trước trận đánh khẳng định chắc nịch đây chính là “cánh cửa thép” bất khả xâm phạm, một điểm chiến lược dễ thủ khó công, là niềm tự hào, là chỗ dựa đáng tin cậy của Vùng I chiến thuật, của căn cứ quân sự liên hợp miền Trung. Nhờ “mắt ngọc” này, Quân lực Việt Nam Cộng hòa dễ dàng quan sát và đánh phá đường tiến quân của Quân Giải phóng từ Bắc vào Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh. Hơn nữa, để tiến quân vào giải phóng Đà Nẵng buộc quân Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phải phá được căn cứ này vì đây là tiền đồn chiến lược bảo vệ căn cứ quân sự và sân bay Đà Nẵng.[5]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Đợt 1[sửa | sửa mã nguồn]

Đêm 28, rạng sáng 29/07/1974, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắt đầu triển khai trận địa pháo 85mm tại cao điểm 118 để nã pháo vào lô cốt mẹ và cứ điểm tiền tiêu.[5] Cũng trong đêm 28/07, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành sơ tán dân thường để tránh gây thương vong dân sự, hạn chế khả năng Quân lực Việt Nam Cộng hòa sử dụng dân thường làm lá chắn sống.[1]. Do thực lực của Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn mạnh, hệ thống lô cốt rất kiên cố nên đợt tấn công đầu tiên của Quân Giải phóng không có hiệu quả dù kéo dài trong 3 ngày. Sau đợt 1, QGP chuyển từ tập kích dồn dập sang đánh lấn từng bước.[5]

Đợt 2[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu Bộ Quốc phòng Mỹ ghi rằng: “Tại chi khu quân sự Thượng Đức, tổn thất của biệt động quân và các đơn vị trú phòng ngày càng gia tăng, trong khi việc tải thương không thực hiện được do hỏa lực phòng không ác liệt của đối phương. Theo báo cáo của Sở chỉ huy chiến dịch tại Đà Nẵng gửi về Sài Gòn: Tại Thượng Đức, tình hình trở nên nguy kịch khi lính biệt động quân sắp cạn kiệt đạn dược cũng như lương thực. Không quân Việt Nam cộng hòa cố gắng thả dù tiếp tế khẩn cấp vào ngày 5.8 nhưng do hỏa lực phòng không ác liệt, tám kiện hàng tiếp tế đều rơi ngoài chu vi phòng thủ”.

Tới nửa đêm 05/08, sau khi triển khai xong trận địa pháo tới rạng sáng 7-8-1974, khi lớp sương mù dày đặc trên các sườn núi vừa tan, Quân Giải phóng tiếp tục nã pháo vào các mục tiêu từ các điểm cao trên đồi. Với hỏa lực mạnh hơn và chính xác hơn lần trước, lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hòa trở nên rối loạn, mất phương hướng dẫn tới mất căn cứ Thượng Đức. Riêng Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng bị trúng đạn, biết không thể thoát nên đã tự sát tại chỗ. Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng 79 biệt động quân Hà Văn Lầu và quận phó Vũ Trung Tín bị bắt.[5] Để cứu vãn tình thế, tướng Ngô Quang Trưởng buộc phải điều 2 máy bay Cessna A-37 Dragonfly để ném bom Quân Giải phóng, thậm chí ném bom vào cả dân thường để buộc QGP rút lui do QGP đang tạo hành lang để người dân di tản khỏi vùng chiến sự.[6]

Đúng 8 giờ 30 phút ngày 7-8-1974, cờ của Sư đoàn 304 được cắm trên cứ điểm Thượng Đức. Sau ba lần đột phá tiến công diễn ra trong 10 ngày đêm vào cứ điểm có công sự vững chắc, Sư đoàn 304 cùng Trung đoàn 3 - Sư đoàn 324 và một số đơn vị vũ trang địa phương Quân khu 5 đã làm chủ chi khu Thượng Đức và các vị trí vệ tinh; tiêu diệt và bắt 1.600 địch; bắn rơi 13 máy bay A37 và trực thăng vũ trang; thu hơn 1.000 súng các loại. Về phía quân Giải phóng cũng bị thương vong hơn 600 cán bộ, chiến sĩ[7].

Đợt 3[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi chiếm được Thượng Đức, để sẵn sàng đánh trả cuộc phản công lớn của địch hòng chiếm lại khu vực này, Quân Giải phóng sử dụng Trung đoàn 3, Sư đoàn 324 tiến công đánh chiếm khu vực Bàn Tân 2, Hà Nha, các điểm cao 52, 126, 109 (đông Thượng Đức 5km). Tiếp đó Trung đoàn 3 và Trung đoàn 66 tổ chức tuyến phòng ngự kéo dài từ điểm cao 52 qua Hà Nha, Bàn Tân, vượt sông Vu Gia vào tới thung lũng núi Hữu Trinh, cắt đứt hoàn toàn đường tiến quân của địch từ Đà Nẵng lên Thượng Đức. Trung đoàn 24 bộ binh - Sư đoàn 304 vừa từ Quảng Trị vào được giữ làm lực lượng dự bị.

Nhận tin Thượng Đức thất thủ, Tống thống Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu đã bay ra thị sát vì biết Đà Nẵng bị uy hiếp nghiêm trọng. Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Sư đoàn dù, đơn vị trù bị chiến lược tinh nhuệ bậc nhất của quân đội Sài Gòn, bay ra Đà Nẵng để tái chiếm Thượng Đức.

Để tái chiếm Thượng Đức, quân đội Sài Gòn tiến đánh cao điểm 1062. Lực lượng lính dù VNCH được huy động để tham chiến. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và QLVNCH giằng co từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 năm 1974, đặc biệt tại các cao điểm 700, 383 và 1062. Để hỗ trợ bộ binh, quân đội Sài Gòn điều máy bay cường kích và pháo binh yểm hộ. Tháng 8 cũng khởi đầu mùa mưa lớn, các con đường đều sụt lở, lầy lội, suối sâu nước đổ ào ào dữ dội. Hàng ngày, máy bay, pháo binh trút bom dữ dội. Các tuyến hào chiến đấu ngược lên đỉnh 1062 đầy bùn nước sền sệt ngập tới đầu gối.

Quân đội Sài Gòn dần dần chiếm được một số cao điểm 109, 700, 383… trong hệ thống phòng ngự phía trước của quân Giải phóng. Ngày 19 tháng 9/1974, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù báo cáo đã chiếm được đỉnh 1062. Tính đến trung tuần tháng 10/1974, sau gần 2 tháng, Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù (gồm 4 tiểu đoàn tham chiến) đã bị tổn thất khoảng 500 binh sĩ chết và bị thương. Ngày 29 tháng 10 thì Trung đoàn 24 Quân Giải phóng đã mở một cuộc tấn công tái chiếm thành công cao điểm 1062.

Sau 4 tháng giao tranh, Sư đoàn dù quân đội Sài Gòn bị thiệt hại đến 50% quân số và không còn đủ khả năng tấn công tiếp, cuối cùng đã phải rút quân. Như vậy là đến cuối năm 1974, sau 3 đợt giao tranh, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam làm chủ hoàn toàn căn cứ Thượng Đức còn sư đoàn dù VNCH đã bị đánh quỵ và phải rút khỏi mặt trận Thượng Đức.[8]

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến thắng này có ý nghĩa rất quan trọng với Quân Giải phóng khi sức mạnh cho QGP tiến tới tiêu diệt các cứ điểm: Hòn Chiêng, Núi Gai, Động Mông, Lạc Sơn, Đá Hàm, ép địch lui về Cấm Dơi và quận lỵ Quế Sơn. Nhờ sự giúp sức mạnh mẽ của Sư đoàn 2, lực lượng vũ trang Quảng Nam, Quảng Đà tiêu diệt 70 cứ điểm, mở rộng vùng giải phóng ở huyện Điện Bàn, tây Tam Kỳ, Quế Sơn, bức hàng trung đội dân vệ Gò Đa, phá sập cầu Thủy Tú, Giao Thủy, Bà Bầu, bắn phá sân bay, đánh chìm tàu quân sự tại quân cảng Đà Nẵng, thành phố của thủ phủ miền Trung trong tình thế bị cô lập, uy hiếp. Chiến thắng này đã phá vỡ hoàn toàn hệ thống phòng thù Đà Nẵng. Chiến thắng này tiếp tục củng cố quan điểm cho rằng sức mạnh của QGP đã vượt trội QLVNCH, tạo tiền đề để QGP chiếm thế chủ động hoàn toàn trên chiến trường trong năm 1975.[5]

Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Trận Thượng Đức cho phép ta rút ra nhận định: Quân chủ lực cơ động của ta đã mạnh hơn chủ lực cơ động của địch. Một hình thái mới bắt đầu xuất hiện: Địch không còn khả năng chiếm lại các vị trí đã mất, quân ta có đủ khả năng tiến công tiêu diệt địch trong công sự kiên cố, tiêu diệt cụm cứ điểm, chi khu, quận lỵ, giữ được mục tiêu, chiếm đất, giải phóng dân ngay ở vùng giáp ranh”. Chiến thắng Thượng Đức cũng được nhắc đến trong Hội nghị Bộ Chính trị từ ngày 30-9-1974 đến 8-10-1974, trong đó Bộ Chính trị khẳng định đã đến thời điểm tung ra trận quyết chiến cuối cùng giành toàn thắng và chọn Tây Nguyên là chiến trường chính trong hoạt động mùa khô năm 1975 của toàn miền Nam.[9]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]