USS Ballard (DD-267)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
USS Ballard
Tàu khu trục USS Ballard (DD-267)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Ballard (DD-267)
Đặt tên theo: Edward J. Ballard
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Squantum Victory Yard
Đặt lườn: 3 tháng 6 năm 1918
Hạ thủy: 7 tháng 12 năm 1918
Đỡ đầu bởi: cô Eloise Ballard
Nhập biên chế: 5 tháng 6 năm 1919
Tái biên chế: 25 tháng 6 năm 1940
Xuất biên chế: 17 tháng 6 năm 1922
5 tháng 12 năm 1945
Xếp lớp lại: AVD-10, 2 tháng 8 năm 1940
Xóa đăng bạ: 3 tháng 1 năm 1946
Danh hiệu và
phong tặng:
2 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Bán để tháo dỡ, 23 tháng 5 năm 1946
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn) 1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
130 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Ballard (DD-267/AVD-10) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất, trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai được cải biến thành tàu tiếp liệu thủy phi cơ AVD-10 và đã tiếp tục phục vụ cho đến khi xung đột kết thúc. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Edward J. Ballard (1790-1813), một sĩ quan hải quân tử trận trong cuộc Chiến tranh 1812.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Ballard được đặt lườn vào ngày 3 tháng 6 năm 1918 tại xưởng tàu Squantum Victory Yard của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSquantum, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 7 tháng 12 năm 1918, được đỡ đầu bởi cô Eloise Ballard; và được đưa ra hoạt động vào ngày 5 tháng 6 năm 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân H. M. Collier.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Được phân về Hạm đội Đại Tây Dương, từ tháng 7 năm 1919 đến tháng 7 năm 1920, Ballard thực hiện chuyến đi đến nhiều cảng Châu ÂuĐịa Trung Hải. Nó quay trở về Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 1920 và phục vụ trong một thời gian cùng Hạm đội Đại Tây Dương trước khi được điều động sang Hạm đội Thái Bình Dương, nơi nó tham gia huấn luyện và thực hành cơ động hạm đội cho đến khi được cho xuất biên chế và đưa về lực lượng dự bị tại San Diego, California vào ngày 17 tháng 6 năm 1922.

Ballard được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 25 tháng 6 năm 1940, và được kéo đến xưởng tàu Union Yard của hãng Bethlehem Steel CorporationSan Francisco, California để được cải biến thành một tàu tiếp liệu thủy phi cơ. Nó được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới AVD-10vào ngày 2 tháng 8 năm 1940, được đưa vào hoạt động thường trực và được phân về Lực lượng Tuần tiễu Hạm đội Thái Bình Dương

Thế Chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Hoa Kỳ bước vào Chiến tranh Thế giới thứ hai, Ballard lên đường đi Trân Châu Cảng, đến nơi vào ngày 28 tháng 1 năm 1942. Cho đến tháng 11 năm 1943, nó tham gia các hoạt động tiếp liệu thủy phi cơ, thả phao tiêu cho máy bay, hộ tống vận tải và tuần tra trong suốt khu vực Đông Thái Bình Dương, bao gồm Phoenix, Midway, Fiji, Espiritu Santo, Guadalcanal, FloridaNew Caledonia. Quay trở về San Francisco vào ngày 7 tháng 11, nó hoàn tất công việc sửa chữa vào ngày 30 tháng 12 năm 1943, rồi hoạt động như một tàu canh phòng máy bay cho hoạt động chuẩn nhận phi công tàu sân bay ngoài khơi San Diego cho đến tháng 5 năm 1944.

Từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1944, Ballardtham gia chiến dịch đổ bộ lên Saipan, làm nhiệm vụ thả phao tiêu cho máy bay và tiếp liệu cho Liên đội Tuần tra 1 hoạt động tại khu vực này. Sau đó nó làm nhiệm vụ tuần tra trong quá trình chiếm đóng quần đảo Palau từ ngày 12 tháng 9 đến ngày 11 tháng 12 năm 1944. Đến cuối tháng 12 năm 1944, nó trải qua một đợt sửa chữa khác trong ụ tàu tại Seattle, Washington, và sau khi hoàn tất, nó lại đảm trách nhiệm vụ canh phòng máy bay ngoài khơi San Diego cho đến ngày 1 tháng 10 năm 1945. Nó đi đến Philadelphia, Pennsylvania vào ngày 26 tháng 10 năm 1945 để chuẩn bị ngừng hoạt động. Ballard được cho xuất biên chế vào ngày 5 tháng 12 năm 1945 và bị bán vào ngày 23 tháng 5 năm 1946 để tháo dỡ.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ballard được tặng thưởng hai Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]