USS Melvin (DD-335)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Melvin (DD-335)
Đặt tên theo: John T. Melvin
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Union Iron Works, San Francisco
Đặt lườn: 15 tháng 9 năm 1920
Hạ thủy: 11 tháng 4 năm 1921
Đỡ đầu bởi: cô Laura L. McKinistry
Nhập biên chế: 31 tháng 5 năm 1921
Xuất biên chế: 8 tháng 5 năm 1930
Xóa đăng bạ: 3 tháng 11 năm 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 1930
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,8 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,4 m)
Mớn nước: 9,3 ft (2,8 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 27.600 hp (20.600 kW)
Tốc độ: 35,5 kn (65,7 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Số lượng tàu con
và máy bay mang được:
4 × xuồng đổ bộ LCP
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Melvin (DD-335) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Trung úy Hải quân John T. Melvin (1887-1917), sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ đầu tiên tử trận trong Thế Chiến I. Melvin ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Melvin được đặt lườn vào ngày 15 tháng 9 năm 1920 tại xưởng tàu Union Iron Works của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 11 tháng 4 năm 1921, được đỡ đầu bởi cô Laura L. McKinistry, và được đưa ra hoạt động vào ngày 31 tháng 5 năm 1921 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Charles E. Rosendahl.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một giai đoạn chạy thử máy ngắn, Melvin bắt đầu hoạt động ngoài khơi vùng bờ Tây Hoa Kỳ, vốn là khu vực hoạt động chủ yếu của nó trong suốt quãng đời hoạt động, đặt cảng nhà tại San Diego, California. Nó đã ba lần băng qua kênh đào Panama cho các cuộc tập trận hạm đội tại vùng biển Caribe trong các năm 1923, 19241927. Sau cuộc tập trận cuối này, nó đi lên phía Bắc viếng thăm New YorkNewport, Rhode Island trước khi lên đường đi Nicaragua. Đi đến khu vực Bluefields vào ngày 25 tháng 6, nó ở lại đây cho đến ngày 6 tháng 7 hỗ trợ lực lượng Thủy quân Lục chiến đang cố duy trì trật tự sau tình trạng bất ổn chính trị tại đây. Các cuộc thực tập và huấn luyện tại vùng biển Hawaii cũng xen kẻ vào các hoạt động thường lệ của nó, và sau một cuộc tập trận phối hợp Lục-Hải quân vào mùa Xuân năm 1925, nó thực hiện hành trình vượt Thái bình Dương để viếng thăm thiện chí đến Samoa, AustraliaNew Zealand.

Vào ngày 17 tháng 7 năm 1929, Melvin đi vào Xưởng hải quân Mare Island, San Francisco để chuẩn bị ngừng hoạt động. Đến ngày 7 tháng 10, nó được chiếc tàu kéo Tern kéo về phía Nam trong chuyến đi cuối cùng đến San Diego. Đến nơi vào ngày 11 tháng 10, Melvin được cho xuất biên chế vào ngày 8 tháng 5 năm 1930 nhằm tuân thủ quy định cắt giảm vũ khí của Hiệp ước Hải quân London, và đến ngày 10 tháng 5 được cho kéo trở lại Mare Island để tháo dỡ. Được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 3 tháng 11 năm 1930, vật liệu tháo dỡ từ con tàu được bán sắt vụn tronghai năm tiếp theo.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]