USS Corry (DD-334)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Corry (DD-334)
Tàu khu trục USS Corry (DD-334)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Corry (DD-334)
Đặt tên theo: William M. Corry, Jr.
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Union Iron Works, San Francisco
Đặt lườn: 15 tháng 9 năm 1919
Hạ thủy: 28 tháng 3 năm 1921
Đỡ đầu bởi: bà S. W. Corry
Nhập biên chế: 25 tháng 5 năm 1921
Xuất biên chế: 24 tháng 4 năm 1930
Xóa đăng bạ: 22 tháng 7 năm 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 18 tháng 10 năm 1930
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,8 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,4 m)
Mớn nước: 9,3 ft (2,8 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 27.600 hp (20.600 kW)
Tốc độ: 35,5 kn (65,7 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Số lượng tàu con
và máy bay mang được:
4 × xuồng đổ bộ LCP
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Corry (DD-334) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Thiếu tá Hải quân William M. Corry, Jr. (1889-1920), người được tặng thưởng Huân chương Danh dự. Corry ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ cùng năm đó nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Corry được đặt lườn vào ngày 15 tháng 9 năm 1919 tại xưởng tàu Union Iron Works của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 28 tháng 3 năm 1921, được đỡ đầu bởi bà S. W. Corry, và được đưa ra hoạt động vào ngày 25 tháng 5 năm 1921 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân K. E. Hintze.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Corry trình diện để phục vụ cùng Hạm đội Thái Bình Dương, và đã hoạt động dọc theo vùng bờ Tây Hoa Kỳ trong những nhiệm vụ thường lệ. Nó tham gia các cuộc cơ động hạm đội trong các chuyến đi trải rộng từ Alaska đến vùng biển Caribe, tham gia thử nghiệm phát triển sonar đo độ sâu, thực hành hỏa lực phòng không, canh phòng cứu hộ máy bay.

Vào tháng 7 năm 1923, Corry tham gia cùng tàu chị em Hull (DD-330) để hộ tống cho Tổng thống Warren G. Harding trên chiếc Henderson (AP-1) trong chuyến đi đến vùng biển Alaska và Canada, khi Tổng thống nhiễm bệnh và qua đời trong chuyến đi này. Nó gia nhập trở lại hải đội để tham gia Hội nghị American Legion tại San Francisco vào tháng 10 năm 1923. Trong các ngày 89 tháng 9 năm 1924, nó đón lên tàu Bộ trưởng Hải quân Curtis D. Wilbur cho một chuyến viếng thăm Xưởng hải quân Mare Island. Từ ngày 28 tháng 8 đến ngày 9 tháng 9 năm 1925, nó phục vụ như cột mốc dẫn đường cho chuyến bay không ngừng nghỉ từ Hawaii đến San Francisco.

Vào tháng 12 năm 1929, Corry đi vào Căn cứ Khu trục San Diego để chuẩn bị ngừng hoạt động. Nó được kéo đến Xưởng hải quân Mare Island và được cho xuất biên chế tại đây vào ngày 24 tháng 4 năm 1930. Sau khi được tháo dỡ một phần, nó được bán sắt vụn vào ngày 18 tháng 10 năm 1930 nhằm tuân thủ quy định cắt giảm vũ khí của Hiệp ước Hải quân London.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]