USS Decatur (DD-341)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Decatur
Tàu khu trục USS Decatur (DD-341)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Decatur (DD-341)
Đặt tên theo: Stephen Decatur
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Mare Island
Đặt lườn: 15 tháng 9 năm 1920
Hạ thủy: 29 tháng 10 năm 1921
Nhập biên chế: 9 tháng 8 năm 1922
Xuất biên chế: 28 tháng 7 năm 1945
Xóa đăng bạ: 13 tháng 8 năm 1945
Số phận: Bán để tháo dỡ, 30 tháng 11 năm 1945
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,8 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,4 m)
Mớn nước: 9,3 ft (2,8 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 27.600 hp (20.600 kW)
Tốc độ: 35,5 kn (65,7 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Số lượng tàu con
và máy bay mang được:
4 × xuồng đổ bộ LCP
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Decatur (DD-341) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Thiếu tướng Hải quân Stephen Decatur (1779-1820), người tham gia cuộc Chiến tranh 1812. Decatur đã tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai cho đến khi được cho ngừng hoạt động và bị tháo dỡ năm 1945.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Decatur được đặt lườn vào ngày 15 tháng 9 năm 1920 tại Xưởng hải quân Mare IslandVallejo, California. Nó được hạ thủy vào ngày 29 tháng 10 năm 1921, được đỡ đầu bởi bà J. S. McKean, và được đưa ra hoạt động vào ngày 9 tháng 8 năm 1922 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân C. K. Osborne.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy, Decatur khởi hành đi San Diego, California, nơi nó được cho xuất biên chế vào ngày 17 tháng 1 năm 1923; nhưng rồi nhập biên chế trở lại vào ngày 26 tháng 9 và trở thành soái hạm của Hải đội Khu trục 11 trực thuộc Hạm đội Chiến trận. Cho đến năm 1937, nó hoạt động dọc theo vùng bờ Tây Hoa Kỳ, vùng biển Hawaii và vùng biển Caribe. Từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1925, nó thực hiện chuyến viếng thăm Samoa, New ZealandAustralia, và vào tháng 4 năm 1926 đã thực hiện một cuộc khảo sát rộng rãi bờ biển Mexico. Vào ngày 28 tháng 7 năm 1926, chiếc tàu khu trục đón lên tàu Bộ trưởng Hải quân Curtis D. Wilbur tại Bremerton, Washington cho chuyến viếng thăm chính thức đến các cảng Alaska, quay trở về Bremerton vào ngày 6 tháng 8. Nó cũng từng đưa Cao ủy Haiti đến Santiago, Cuba vào ngày 14 tháng 3 năm 1930, rồi viếng thăm New Yorkvịnh Chesapeake cho một cuộc Duyệt binh Hạm đội Tổng thống vào ngày 19 tháng 5 trước khi quay trở lại vùng bờ Tây trong tháng 6.

Decatur đi đến Norfolk, Virginia vào ngày 22 tháng 2 năm 1937 để làm nhiệm vụ cùng Phân đội Huấn luyện thuộc Hạm đội Hoa Kỳ. Nó hộ tống cho chuyến đi của Tổng thống Franklin Delano Roosevelt trên chiếc Potomac đi đến New OrleansTexas, rồi phục vụ trong các chuyến đi huấn luyện học viên sĩ quan và quân nhân dự bị, cũng như hoạt động Tuần tra Trung lập dọc vùng bờ Đông Hoa Kỳ kéo dài đến vùng biển Cuba cho đến tháng 9 năm 1941.

Thế Chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Đi đến Argentia, Newfoundland vào ngày 14 tháng 9 năm 1941, Decatur phục vụ trong việc hộ tống các đoàn tàu vận tải và tuần tra đến các cảng tại Iceland cho đến khi nó quay trở về Boston, Massachusetts vào ngày 17 tháng 5 năm 1942. Từ ngày 4 tháng 6 đến ngày 25 tháng 8, nó hoạt động hộ tống vận tải giữa Norfolk và Key West, Floriad, rồi giữa và vịnh Guantánamo, Cuba từ ngày 30 tháng 8 đến ngày 13 tháng 10. Cho đến ngày 14 tháng 1 năm 1943, nó hộ tống tàu bè ra khơi giữa Boston và New York, rồi khởi hành vào ngày 11 tháng 2 để đi sang khu vực Địa Trung Hải, trước khi quay trở về Aruba thuộc Tây Ấn. Nó còn thực hiện bốn chuyến đi từ New York và Aruba đến Địa Trung Hải cho đến ngày 1 tháng 10.

Decatur tham gia đội đặc nhiệm hình thành chung quanh tàu sân bay hộ tống USS Card và khởi hành từ Norfolk vào ngày 24 tháng 11 năm 1943 cho hoạt động tìm và diệt tàu ngầm, quay trở về New York vào ngày 3 tháng 1 năm 1944. Từ ngày 26 tháng 1 đến ngày 17 tháng 2, nó hộ tống một đoàn tàu đi Panama, quay trở về cùng một đoàn tàu khác đến Hampton Roads. Vào ngày 13 tháng 3, nó rời Norfolk trong vai trò soái hạm của Lực lượng Đặc nhiệm 64, hộ tống một đoàn tàu vận tải lớn đi sang Bizerte, Tunisia. Vào ngày 31 tháng 3, đang khi di chuyển giữa OranAlgiers, lực lượng thành công trong việc đẩy lui một cuộc tấn công phối hợp của máy bay và tàu ngầm Đức, và đi đến nơi vào ngày 3 tháng 4. Tám ngày sau, nó lên đường quay trở về Hoa Kỳ, về đến Boston vào ngày 2 tháng 5, trải qua một đợt đại tu ngắn rồi tiến hành huấn luyện sau đó.

Đi đến Norfolk vào ngày 2 tháng 7 năm 1944, Decatur khởi hành từ cảng này để làm nhiệm vụ hộ tống và huấn luyện tại vùng biển Caribe cho đến ngày 30 tháng 6 năm 1945, khi nó đi vào Xưởng hải quân Philadelphia để chuẩn bị ngừng hoạt động. Nó được cho xuất biên chế vào ngày 28 tháng 7 năm 1945 và bị bán vào ngày 30 tháng 11 năm 1945 để tháo dỡ.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Decatur được tặng thưởng hai Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]