Vũ Xuân Chiêm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Vũ Xuân Chiêm
Trung tướng Vũ Xuân Chiêm.jpg
Tiểu sử
Quốc tịchFlag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh1923
Trực Ninh, Nam Định, Liên bang Đông Dương
Mất2012
Hà Nội, Việt Nam
Binh nghiệp
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ1936-1987
Cấp bậcVietnam People's Army Lieutenant General.jpg Trung tướng
Đơn vịBộ Quốc phòng (Việt Nam)

Vũ Xuân Chiêm (1923 - 2012) là một Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục Chính trị - Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Chính ủy Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngoài ra, ông còn từng là: Ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn Trung Bộ, Ủy viên Tỉnh ủy Thừa Thiên, Đại biểu Quốc hội các khóa IV, V và VI.[1][2][3]

Thân thế sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh tháng 2 năm 1923 tại xã Trung Đông, huyện Nam Ninh (nay là xã Trung Đông,huyện Trực Ninh), tỉnh Nam Định, tỉnh Nam Định.

Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, năm 14 tuổi, ông đi làm thợ thuỷ tinh.

Năm 1936, ông tham gia phong trào dân chủ, làm nhiệm vụ liên lạc và chuyển tài liệu cho các cán bộ Cộng sản.

Từ năm 1937 đến tháng 8 năm 1945, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam vì trong người có tài liệu, do chưa đủ tuổi nên bị kết án 15 năm tù khổ sai, 15 năm đày đi biệt xứ đưa đi giam tại các nhà tù Hoà Bình, Sơn La rồi đày đi Côn Đảo.

Năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Thời gian ở tù, ông còn có bí danh là Vũ Xuân Chi.

Tháng 9 năm 1945, ông ra tù, được ông Hồ Tùng Mậu, đón về Huế tiếp tục hoạt động, tham gia Ban Chấp hành Công đoàn Trung Bộ.

Năm 1947, ông là Tỉnh uỷ viên tỉnh Thừa Thiên.

Từ năm 1950 đến năm 1954, ông là Cán bộ chính trị, Phó cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, tham gia các chiến dịch Biên Giới, Hoà Bình, Tây Bắc và chiến dịch Điện Biên Phủ.

Từ năm 1955 đến năm 1960, ông Phó cục trưởng rồi Cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần.

Năm 1961, ông học tại Học viện Quân sự Liên Xô. Sau khi về nước,

Từ năm 1962 đến năm 1965, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Năm 1965, ông được điều động làm Phó chính uỷ rồi Chính uỷ Bộ Tư lệnh Đoàn 559.

Năm 1970, ông được điều trở lại làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Năm 1974, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng,

Đến tháng 6 năm 1976, thăng làm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, được thăng quân hàm Trung tướng năm 1982.

Từ tháng 9 năm 1976 đến năm 1987, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Năm 1987, ông nghỉ hưu

Ông qua đời ngày 7 tháng 9 năm 2012 tại Hà Nội.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982)

Tặng thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Huân chương Độc lập hạng Nhất

Huân chương Quân công hạng Nhất

Huân chương Chiến thắng hạng Nhất

Huân chương Kháng chiến hạng Nhất

Huân chương Chiến công hạng Nhất

Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất

Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]