Về chuyện tôi chuyển sinh thành Slime

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Về chuyện tôi chuyển sinh thành Slime
That Time I Got Reincarnated as a Slime light novel volume 1 cover.jpg
Bìa light novel tập đầu tiên
転生したらスライムだった件
(Tensei-shitara Suraimu datta Ken)
Thể loạiKỳ ảo,[1] Isekai[2]
Loạt tiểu thuyết
Tác giảFuse
Nhà xuất bảnShōsetsuka ni Narō
Đăng tải20132016
Light novel
Tác giảFuse
Minh họaMitz Vah
Nhà xuất bảnNhật Bản Micro Magazine
Nhà xuất bản tiếng ViệtViệt Nam Skybooks
Nhà xuất bản khác
Hoa Kỳ Yen Press
Đối tượngNam giới
Ấn hiệuGC Novels
Đăng tải30 tháng 5, 2014 – nay
Số tập19 (danh sách tập)
Manga
Tác giảFuse
Minh họaKawakami Taiki
Nhà xuất bảnKodansha
Nhà xuất bản khác
Hoa Kỳ Kodansha USA
Đối tượngShōnen
Tạp chíMonthly Shōnen Sirius
Đăng tải26 tháng 3, 2015 – nay
Số tập21
Manga
Tensei-shitara Slime datta ken: Mamono no kuni no arukikata
Tác giảFuse
Minh họaOkagiri Shō
Nhà xuất bảnNhật Bản Micro Magazine
Đối tượngSeinen
Tạp chíComic Ride
Đăng tải28 tháng 7, 2016 – nay
Số tập9
Anime truyền hình
Đạo diễnKikuchi Yasuhito
Kịch bảnFudeyasu Kazuyuki
Âm nhạcElements Garden
Hãng phimNhật Bản 8-Bit
Cấp phépCrunchyroll
Funimation
Kênh gốcTokyo MX, BS11, tvk, MBS
Phát sóng 2 tháng 10, 2018 21 tháng 9, 2021
Số tập48 + 5 OVA (danh sách tập)
Anime truyền hình
Tensura Nikki
Đạo diễnIkuhara Yuji
Kịch bảnKotatsumikan
Âm nhạcR.O.N
Hãng phimNhật Bản 8-Bit
Cấp phépCrunchyroll
Funimation
Kênh gốcTokyo MX, MBS, BS11, TV Aichi, TVh, TVQ, GYT, GTV, TV-U, AT-X, Animax
Phát sóng 6 tháng 4, 2021 22 tháng 6, 2021
Số tập12 (danh sách tập)
Phim anime
Công chiếuTháng 11 năm 2022
Wikipe-tan face.svg Cổng thông tin Anime và manga

Tensei-shitara Slime datta ken (Nhật: 転生したらスライムだった件 Hepburn: Tensei-shitara Suraimu datta Ken?, n.đ: Chuyện tôi là Slime sau khi chuyển sinh), hay gọi tắt là Tensura (転スラ?) là loạt light novel kỳ ảo do Fuse sáng tác và Mitz Vah vẽ minh hoạ. Tiểu thuyết được đăng trực tuyến trên trang web xuất bản tiểu thuyết do người dùng viết tên là Shōsetsuka ni Narō từ năm 2013 đến năm 2016. Sau đó được mua lại bởi Micro Magazine và xuất bản tập sách đầu tiên vào năm 2014. Tại Việt Nam, Skybooks mua bản quyền và phát hành light novel với cái tên Về chuyện tôi chuyển sinh thành Slime dưới ấn hiệu Skynovel. Mười chín tập đã được xuất bản tính tới tháng 11 năm 2021. Kể từ khi ra mắt, light novel đã được chuyển thể thành hai bản manga, một bản chuyển thể anime dài tập do 8-Bit sản xuất được phát sóng từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 9 năm 2021.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Câu chuyện bắt đầu với anh chàng Mikami Satoru, một nhân viên 37 tuổi sống cuộc sống chán chường và không vui vẻ gì. Trong một lần gặp cướp, anh đã bị mất mạng. Tưởng chừng cuộc sống chán ngắt ấy đã kết thúc... Nhưng không! Ấy lại chính là sự khởi đầu của một cuộc sống mới. Mikami thức dậy, thấy mình đang ở trong một thế giới kì lạ. Và điều quái dị là anh không còn hình dạng con người nữa mà đã trở thành quái vật Slime dẻo quẹo và không có mắt. Khi dần quen với hình dáng mới này, anh bắt đầu khám phá thế giới mới với cái tên Rimuru Tempest, cùng với những quái vật khác xây dựng quốc gia riêng và bắt đầu công cuộc thay đổi thế giới mới.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

Rimuru Tempest (リムル=テンペスト Rimuru = Tempesuto?)
Lồng tiếng bởi: Okasaki Miho (vai Rimuru),[3] Terashima Takuma (vai Mikami Satoru)[4]
Kiếp trước là Mikami Satoru (三上 (みかみ) (さとる)?), một người đàn ông Nhật Bản 37 tuổi đã chết sau khi cứu hậu bối ở công ty tránh bị đâm dao. Anh được chuyển sinh sang thế giới khác, trở thành một slime mạnh mẽ bởi những kỹ năng được nhận khi đang chuyển kiếp. Vì là slime, Rirumu được xác định là phi giới tính về mặt sinh học, anh tự nhận mình là con trai về mặt tâm hồn. Rimuru có kỹ năng "Kẻ săn mồi", cho phép anh hấp thụ hầu hết mọi thứ, có thể sao chép hình dạng, kỹ năng hay công dụng từ đối tượng đã hấp thụ. Anh kết bạn với Veldora, giải cứu làng Goblin, thu phục tộc Nha Lang, tuyển Người lùn để xây dựng làng và kết bạn với Shizu. Sau đó anh tiếp tục thu phục tộc Orge và tộc Lizardman. Sau khi đánh bại Chúa tể Orc và thu phục tộc Orc, anh thành lập và làm Quốc Chủ của "Ma Quốc Liên Bang" Jura Tempest, một quốc gia của quái vật trong Rừng Đại ngàn Jura và tìm kiếm sự tồn tại của các quái vật cũng như chủng tộc khác đang sinh sống trong Rừng Đại ngàn. Sau khi Jura Tempest bị tấn công và nhiều người dân bị tàn sát bởi vương quốc Falmuth, Rimuru quyết định tàn sát lại quân đội của Falmuth, làm tiền để hồi sinh lại mọi người, tiến hóa thành Ma Vương và đương đầu với những thế lực mạnh hơn rất nhiều có thể gây nguy hại cho quốc gia. Trong hành trình của mình, anh đã phát triển bộ kĩ năng của trở nên đa dạng. Hiện nay, khi trở thành Ma Vương, anh đã có tới 4 kỹ năng tối thượng, điều chưa từng có tiền lệ tại thế giới đó:
  • "Bạo Thực Chi Vương" Beelzebuth - tiền thân là kỹ năng độc nhất "Kẻ săn mồi" kết hợp với kỹ năng độc nhất "Kẻ vô tâm".
  • "Trí Tuệ Chi Vương" Raphael - tiền thân là kỹ năng độc nhất "Đại Hiền Giả" kết hợp với kỹ năng độc nhất "Kẻ biến chất". Ngoài ra, kỹ năng này còn là một "Thần tri hạch" dưới tên Ciel (シエル Shieru?)
  • "Thệ Ước Chi Vương" Uriel - được phân tích từ kỹ năng độc nhất "Ngục tù vô tận" của Chloe (thực chất là Thần tri hạch Chronoa)
  • "Bạo Phong Chi Vương" Veldora - được phân tích từ kỹ năng của Veldora sau khi anh hắp thụ tạm vào trong.

Đồng minh của Rimuru[sửa | sửa mã nguồn]

Veldora Tempest (ヴェルドラ・テンペスト Verudora Tempesuto?)
Lồng tiếng bởi: Maeno Tomoaki[3]
Một bạo long được gọi là "Bạo Phong Long" đã kết bạn với Rimuru và đặt tên cho cậu. Veldora bị nhốt trong một "Ngục tù vô tận" bởi một Dũng Giả xinh đẹp (sau này được tiết lộ là Dũng Giả Chloe), khi ông bị phân tâm bởi vẻ ngoài của cô. Sau khi được Rimuru giải thoát, Rimuru đã đưa ông vào không gian lưu trữ của mình, để họ có thể cùng nhau phân tích câu thần chú Vô tận và phá vỡ nó. Veldora là một quái vật cấp "Thảm họa Toàn cầu" nhưng ông lại rất sợ 2 người chị là Băng Long Velzard và Chước Long Velgrynd. Nhờ có sự giúp đỡ của Rimuru mà Veldora có dạng người và thoát khỏi "Ngục tù vô tận".
Shizue Izawa (シズエ・イザワ?)
Lồng tiếng bởi: Hanamori Yumiri[3]
Tên kiểu NhậtIzawa Shizue (井沢 (いざわ) 静江 (しずえ)?), hay được gọi là Shizu (シズ Shizu?), là một cô gái Nhật Bản được triệu hồi đến thế giới này, trong lúc vụ Oanh tạc Tokyo năm 1945 xảy ra. Việc triệu hồi của cô được coi là một thất bại, và cô đã bị bỏ rơi sau khi có một tinh linh lửa mang tên Ifrit trói buộc vào cơ thể cô. Ngay sau khi cô có được danh hiệu "Hỏa Vương". Cô nhận ra rằng Rimuru cũng từng là người Nhật, hai người đã có một khoảng thời gian ngắn giao lưu với nhau và trở thành những người bạn tốt. Khi Ifrit xâm chiếm khiến cô mất lí trí, Rimuru đã tách cô khỏi Ifrit và hấp thụ hắn, nhưng vì Ifrit cũng là thứ duy trì sự sống cho Shizue, cô nhanh chóng suy yếu và không thể sống được bao lâu nữa. Cô mong muốn sau khi mất, Rimuru có thể hấp thụ cơ thể cô như là di sản mà cô để lại, đồng thời giúp cô tìm lại những học trò của mình. Rimuru sau đó có thể chuyển hóa sang hình dạng con người dựa trên cơ thể của Shizue.
Milim Nava (ミリム・ナーヴァ Mirimu Nāva?)
Lồng tiếng bởi: Hidaka Rina
Milim là Dragonoid (Long Ma Nhân) và là một trong những Ma Vương mạnh nhất và cổ xưa nhất. Cô được biết đến với danh hiệu Destroy - "Phá Hoại Bạo Quân" (破壊の暴君 (デストロイ) Desutoroi?), một Ma Vương thuộc ''cấp Thiên Tai'' (cấp cao nhất) và có sức mạnh mẫu mực của sự hủy diệt. Cô kết bạn với Rimuru và quyết định sống ở Jura Tempest, mặc dù cô chọn không can thiệp vào hành động của Ma Vương khác. Thích ăn mật ong (lúc giao đấu trong lần đầu gặp mặt, Rimuru "nhét" cô ăn và dùng nó "hối lộ" để tránh Tempest bị cô hủy diệt).
Ramiris (ラミリス Ramirisu?)
Lồng tiếng bởi: Haruno Anzu
Nữ hoàng tinh linh bị tha hoá thành Ma Vương, là người cân bằng thế giới là 1 trong 3 Ma Vương đầu tiên, là bạn của Rimuru

Thuộc hạ[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Hiền Giả (大賢者 Dai Kenja?) / Raphael (智慧之王 (ラファエル) (Trí Tuệ Chi Vương) Rafaeru?) / Thần trí hạch Ciel (神智核 (マナス) シエル Manasu Shieru?)
Lồng tiếng bởi: Toyoguchi Megumi[3]
Là trợ lý trong tâm trí (trợ lý ảo) của Rimuru ngay từ khi chuyển sinh, cô đã sử dụng giọng nói giống "Giọng nói thế giới" để nói chuyện với Rimuru. Rimuru có thể trao quyền điều khiển cơ thể cậu cho cô. Khi Rimuru tiến hóa thành Ma Vương, cô kết hợp với một kỹ năng đặc biệt khác của Rimuru là "Kẻ biến chất" để tiến hóa thành kỹ năng tối thượng Raphael - "Trí Tuệ Chi Vương".

Goblin - Hobgoblin[sửa | sửa mã nguồn]

Rigurd (リグルド Rigurudo?)
Lồng tiếng bởi: Yamamoto Kanehira[5]
Rigurd là người đứng đầu làng Goblin. Anh từng là một Goblin già yếu cho đến khi được tiến hóa thành một con hobgoblin to lớn khi được đặt tên bởi Rimuru. Anh được Rimuru bổ nhiệm làm Vua Goblin để cai quản những Goblin trong Tempest.
Rigur (リグル Riguru?)
Lồng tiếng bởi: Ishiya Haruki[5]
Rigur là con trai của Rigurd. Rimuru chọn tên anh trai của Rigurd cho anh ta.
Gobta (ゴブタ Gobuta?)
Lồng tiếng bởi: Tomari Asuna[5]
Gobta là một hobgoblin nhỏ, phục vụ Rimuru với tư cách là thủ lĩnh của những kỵ sĩ Goblin cưỡi Sói. Mặc dù trông anh ta trẻ hơn và nhỏ hơn so với những con hobgobin khác, anh ta rất thành thạo các kỹ năng kiếm thuật đủ để hạ gục một con quái vật lớn. Gobta là một người hài hước, nhưng vẫn là một chiến binh tài ba. Anh ta là tướng quân thuộc quân đội của Tempest, đồng thời có khả năng hợp nhất với Tempest Wolves khi sau này anh cùng với Ranga kết hợp thành cặp đôi ăn ý.

Tempest Wolf (Lam Nha Lang tộc)[sửa | sửa mã nguồn]

Ranga (嵐牙 (ランガ) Ranga?)
Lồng tiếng bởi: Kobayashi Chikahiro[6]
Ranga là con sói của tộc Nha Lang, lần đầu tiên gặp Rimuru khi cùng tộc mình đột kích làng của Goblin. Sau khi trưởng tộc (sói đầu đàn) cũ là bố cậu bị Rimuru tiêu diệt, cậu và tộc Nha Lang quy thuận Rimuru và chung sống cùng tộc Goblin. Cậu và bầy đàn của mình được đặt tên và tiến hóa thành Tempest Wolves - "Lam Nha Lang tộc", trong khi bản thân Ranga là trưởng tộc được tiến hóa thành Sói mạnh nhất khi có thể sử dụng kỹ năng 'Cơn bão tử thần'. Mặc dù rất lực lưỡng, cậu rất trung thành với Rimuru như một con cún.

Dwarf (Người lùn)[sửa | sửa mã nguồn]

Kaijin (カイジン?)
Lồng tiếng bởi: Ono Atsushi[5]
Kaijin là một thợ rèn nổi tiếng thuộc tộc người lùn, từng làm việc cho Vương quốc Dwargon. Anh đấm bộ trưởng Vesta vì đổ rượu để hạ nhục Rimuru (do trước đó Rimuru đã cứu thợ mỏ vương quốc và giúp Kaijin làm kiếm). Sau phiên toà, anh và những người bạn của mình bị trục xuất khỏi Vương quốc Dwargon và được Rimuru tuyển dụng vào xây dựng làng.
Vesta (ベスター Besutā?)
Lồng tiếng bởi: Tsuda Kenjiro[7]
Vesta là cựu bộ trưởng của Vương quốc Dwargon và là nhà nghiên cứu. Tuy có tài năng và sự kính trọng với quốc vương, Vesta lại hay đố kị với Kaijin và luôn cố chơi xỏ với Kaijin vì lo sợ sẽ không được quốc vương yêu quý. Sau phiên tòa xử vụ Kaijin đấm Vesta, Vesta bị phạt không được gặp vua nữa và ông cảm thấy hối hận. Sau khi thành lập liên minh với Liên đoàn Jura Tempest, quốc vương của Dwargon đã gửi Vesta cho Rimuru như một món quà với hy vọng anh ta có thể giúp Tempest phát triển. Vesta coi trọng cơ hội này và dốc sức làm việc cho Tempest.

Ogre - Quỷ Nhân (Kijin)[sửa | sửa mã nguồn]

Benimaru (ベニマル/紅丸?)
Lồng tiếng bởi: Furukawa Makoto[3]
Hoàng tử tộc Ogre, nay là Quỷ Nhân. Sau khi tộc Ogre bị tàn sát bởi Orc, anh và những Orge còn lại giao chiến với Rimuru vì nghi ngờ là đồng phạm nhưng Rimuru đã chứng minh sự trong sạch. Tộc Ogre sau đó quy thuận theo Rimuru và tiến hóa thành Quỷ Nhân, một chủng Orge hiếm gặp sau khi được đặt tên bởi Rimuru.
Shuna (シュナ/朱菜?)
Lồng tiếng bởi: Senbongi Sayaka[3]
Shuna là công chúa Ogre, nay là Quỷ Nhân và em gái của Benimaru. Cô giỏi làm quần áo và dạy các kỹ năng của mình cho Goblin sau khi tiến hóa thành một Quỷ Nhân. Sau này Rimuru ban cho cô danh hiệu 'Công chúa thánh thiện'.
Shion (シオン/紫苑?)
Lồng tiếng bởi: M.A.O[3]
Shion là một nữ Ogre, nay là Quỷ Nhân, cũng là một đầu bếp khủng khiếp. Cô trở thành thư ký và vệ sĩ của Rimuru sau khi tiến hóa thành một Quỷ Nhân và chia sẻ sự cạnh tranh với Shuna vì sự chú ý của Rimuru.
Sōei (ソウエイ/蒼影?)
Lồng tiếng bởi: Eguchi Takuya[3]
Soei là một Ogre, nay là Quỷ Nhân. Anh là bạn của Benimaru. Anh phục vụ như là trinh sát, gián điệp và sứ giả cho Rimuru. Sau khi đánh bại chúa tể Orc, Rimuru ban cho anh ta danh hiệu "Spy".
Hakurō (ハクロウ/白老?)
Lồng tiếng bởi: Ōtsuka Hōchū[3]
Hakuro là một Ogre, nay là lão Quỷ Nhân có kỹ năng kiếm thuật. Ông là một người hướng dẫn kiếm thuật cho Rimuru, Gobta, những đứa trẻ hobgoblin và những quái vật khác.
Kurobee (クロベエ/黒兵衛?)
Lồng tiếng bởi: Yanagita Jun'ichi[6]
Kurobee là một Ogre, nay là Quỷ Nhân. Anh phục vụ Rimuru với tư cách là một thợ rèn.

Orc (Người lợn rừng) - High Orc (Trư nhân)[sửa | sửa mã nguồn]

Geld (ゲルド Gerudo?)
Lồng tiếng bởi: Nomura Kenji
Sau khi đánh bại Chúa tể Orc, anh ta được Rimuru đặt tên và phát triển thành High Orc. Anh ta được bổ nhiệm làm Chúa tể của các Orc khác ở Tempest và là một chỉ huy của quân đội của nó.

Lizardman (Người thằn lằn) - Dragonewt (Long Nhân)[sửa | sửa mã nguồn]

Gabil (ガビル Gabiru?)
Lồng tiếng bởi: Fukushima Jun[8]
Gabil là con trai của trưởng tộc Long Nhân. Anh ta kiêu ngạo và luôn coi thường người khác. Tên của anh ta bị "ghi đè" bởi Rimuru khiến anh ta tiến hóa thành Long Nhân. Sau khi anh quyết định làm thuộc hạ của Rimuru. Trong thời gian đó, anh đã bớt tính "trẻ trâu" và trở thành thủ lĩnh của lực lượng phòng không của Jura Tempest.
Soka (ソーカ?)
Soka là em gái của Gabiru. Cô ấy là cựu lãnh đạo của đội bảo vệ của thủ lĩnh thằn lằn. Sau khi thành lập liên minh rừng Jura với Rimuru, cha cô, Abiru gửi cô đến phục vụ Rimuru để có được một số kinh nghiệm. Cô tiến hóa thành một con người giống như sau khi được đặt tên bởi Rimuru. Soka sau đó làm thuộc cấp của Soei.
Abiru (アビル?)
Abiru là thủ lĩnh của tộc Long Nhân. Ông là cha của Gabil và Soka

Ác ma[sửa | sửa mã nguồn]

Diablo (ディアロ Diaburo?)
Lồng tiếng bởi: Sakurai Takahiro[9]
Là một trong Thất Sắc Thủy Tổ, anh với biệt danh Noir (Hắc Sắc Thủy Tổ) được triệu hồi bởi Rimuru và là thủ lĩnh của Hắc Sắc Quân Đoàn. Anh từng chạm trán với Shizu trước đây. Kể từ lần giao chiến đó, Diablo phát hiện mặt nạ của Shizu ẩn chứa một sức mạnh thời gian vô cùng to lớn, từ đó bắt đầu theo dõi cô. Nhờ đó mà Diablo đã biết tới Rimuru và tin rằng chú slime đó sẽ là người giúp anh vén màn bí ẩn về cội nguồn của sức mạnh. Cũng nhờ đó mà Rimuru mới có thể đánh bại được Đế quốc phương Đông nhờ vào những ác ma khác mà Diablo đã chiêu mộ và giành chiến thắng trong cuộc chiến khốc liệt này, xoá bỏ "Vòng lặp thời gian" - vốn là cái chết của Rimuru được định sẵn trong những vòng lặp thời gian trước đó.

Ultima (ウルティマ Urutima?)

Là một trong Thất Sắc Thủy Tổ, cô được biết đến với biệt danh Violet (Tử Sắc Thủy Tổ) và được tuyển dụng bởi Diablo cho Hắc Sắc Quân Đoàn.

Carrera (カレラ Karera?)

Là một trong Thất Sắc Thủy Tổ, còn được gọi là Jaune (Hoàng Sắc Thủy Tổ) cô cũng là một trong những ác ma nguyên thủy gia nhập Tempest sau khi được Diablo chiêu mộ.

Testarossa (テスタロッサ Tesutarossa?)

Là một trong Thất Sắc Thủy Tổ, cũng là một trong những ác ma thủy tổ gia nhập Tempest sau khi được Diablo chiêu mộ. Cô là Blanc (Bạch Sắc Thủy Tổ).

Nhân Loại[sửa | sửa mã nguồn]

Gard Mjöllmile (ガルド・ミョルマイル Garudo Myorumairu?)
Lồng tiếng bởi: Aoyama Yutaka[10]
Ông là thương nhân được Rimuru cứu, sau này ông là bộ trưởng bộ chính trị của Tempest

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Nine Head (九頭獣 (ナインヘッド) (Cửu Đầu Thú) Nain Heddo?) / Kumara (九魔羅 (クマラ) Kumara?)

Lồng tiếng bởi: Suzushiro Sayumi
Trước là thuộc hạ của Clayman, cô bị ép chiến đấu với Rimuru, và may mắn được anh giải thoát chú thuật kiểm soát của Clayman. Cô trở thành Cáo chín đuôi sau khi được Rimuru đặt tên.

Những đồng minh khác[sửa | sửa mã nguồn]

Youm (ヨウム Yōmu?)
Lồng tiếng bởi: Hosoya Yoshimasa[11]
Yomu là đội trưởng của nhiệm vụ trinh sát của Vương quốc Falmuth trong Rừng Jura. Và có danh "anh hùng đánh bại chúa tể Orc" (thực chất là do Rimuru bắt anh nhận thay vì Rimuru nhằm tạo thanh thế cho Tempest).
Treyni (トレイニー Toreinī?)
Lồng tiếng bởi: Tanaka Rie[5]
Treyni là một dryad (tức nữ thần rừng). Cô và đồng loại của mình là những người bảo vệ rừng già Jura.
Gazel Dwargo (ガゼル・ドワルゴ Gazeru Dowarugo?)
Lồng tiếng bởi: Takaya Hashi[7]
Vua của Vương Quốc Dwargon là bạn của Kaijin. Khi xưa, ông được Hakuro tìm thấy trong rừng và đạy kiếm thuật.
Fuze (フューズ Fyūzu?)
Lồng tiếng bởi: Narita Ken[7]
Fuse là Master Guild của Hiệp hội Tự do Vương quốc Brumund.
Veryard (ベルヤード Beruyādo?)
Lồng tiếng bởi: Yamamoto Itaru[7]
Một bộ trưởng ở Blumund.
Velzard (ヴェルザード Veruzādo?)
Một trong Tứ Chân Long, cô là Bạch Băng Long và là chị gái của Veldora Tempest
Velgrynd (ヴェルグリンド Verugurindo?)
Một trong Tứ Chân Long, cô là Chước Nhiệt Long và là chị gái của Veldora Tempest
Gido (ギド Gido?)
Lồng tiếng bởi: Kijima Ryūichi[7]
Một nhà thám hiểm "kiêm" kẻ trộm, là người bảo hộ cho Ellen. Anh ta là một trong những người bạn đồng hành cuối cùng của Shizue và là người bạn đầu tiên của Rimuru với tư cách một chú slime.
Ellen (エレン Eren?) / Elyune H. Grimwald (エリューン・グリムワルト?)
Lồng tiếng bởi: Kumada Akane[7]
Một nhà thám hiểm pháp sư của con người, nhưng thực ra cô là Elf, có cha là công tước Elalude và chị họ là nữ hoàng Elumeshia thuộc Vương Triều Ma Đạo Sarion. Bản thân cô là "công chúa" ở đó. Tuy vậy, vì một lí do nào đó chưa được xác định mà cô trở thành một mạo hiểm giả. Cô là một trong những người bạn đồng hành cuối cùng của Shizue và là người bạn đầu tiên của Rimuru với tư cách một chú slime.
Kaval (カバル Kabaru?)
Lồng tiếng bởi: Takanashi Kengo[7]
Một nhà thám hiểm chiến đấu của con người, và là người bảo hộ cho Ellen. Anh ta là một trong những người bạn đồng hành cuối cùng của Shizue và là người bạn đầu tiên của Rimuru với tư cách một chú slime.

Hinata Sakaguchi (ヒナタ・サカグチ Hinata Sakaguchi?)

Lồng tiếng bởi: Numakura Manami
Tên kiểu NhậtSakaguchi Hinata (坂口 (さかぐち) 日向 (ひなた)?). Là một Thánh Kị sĩ của Thánh Giáo hội phương Tây, nhưng thực chất cô cũng đuợc triệu hồi từ Nhật Bản. Trước kia cô từng là học trò của Shizue, sau đó đã tự lập và chia tay cô. Do hiểu nhầm - mà chính xác hơn là bị lừa gạt - cô đã phục kích Rimuru vì cho rằng anh đã giết cô giáo của mình, nhưng thất bại do Rimuru đã phân thân nhằm đánh lừa cô. Về sau, khi biết rằng Rimuru thực chất là kẻ chuyển sinh - và không giết Shizue, cô thực sự hối hận vì hành động "nông nổi" của mình. Đã thế, cô lại còn gây ấn tượng xấu cho Rimuru. Sau đó, Luminous đã giảng hòa cho hai người khi tiêu diệt những kẻ đứng đằng sau. Trong trận chiến với Granbell Rosso, cô đã chặn một đòn tấn công nhằm vào Chloe, khiến cả hai rơi vào vòng xoáy không - thời gian. Sau đó hai người cùng nhau quay về quá khứ dưới cái tên Chân dũng giả Chronoa.

Luminous Valentine (ルミナス・バレンタイン Ruminasu Barentain?)

Lồng tiếng bởi: Lynn
Một Ma Vương thuộc chủng tộc Ma cà rồng, và là người đứng đầu thực sự của Thánh Quốc Ruberios. Cô vốn có mối thù với Veldora vì ông ta đã phá hủy quốc gia của cô. Nhưng vì thế mà cô có thể gặp được và trở nên thân thiết với Hinata, Chloe - Chronoa. Và cũng nhờ có Rimuru mà cô cũng không phải gặp thêm bất cứ thảm họa nào từ Veldora nữa.

Kẻ thù của Rimuru[sửa | sửa mã nguồn]

Yuuki Kagurazaka (ユウキ・カグラザカ?)
Lồng tiếng bởi: Hanae Natsuki
Tên kiểu NhậtKagurazaka Yuuki (神楽坂 (かぐらざか) 優樹 (ゆうき)?). Là Guild Master của Hiệp Hội Tự Do. Có quan hệ đồng minh với Đoàn hề Ôn hoà, là người đã giúp Clayman hồi sinh ma vương Kazaream.
Clayman (クレイマン Kureiman?)
Lồng tiếng bởi: Koyasu Takehito
Clayman là một Ma Vương có biệt danh là Bậc Thầy Rối, đã bị Rimuru đánh bại và hấp thụ trong hội nghị Walpurgis giữa các Ma vương.
Gelmud (ゲルミュッド Gerumyuddo?)
Lồng tiếng bởi: Kawanishi Kengo
Gelmud là một tay sai của Ma Vương Clayman. Anh ta đã đưa tên cho chúa tể Orc, Gabiru và những người khác để đánh thức một Ma Vương mới, Orc Disaster. Sau đó, Chúa tể Orc đã ăn anh ta.

Nhân vật khác[sửa | sửa mã nguồn]

Carrion (カリオン?)
Lồng tiếng bởi: Takumi Yasuaki
Là vua của vương quốc người thú Eurazania, ban đầu ông là Ma Vương nhưng sau khi chứng kiến sức mạnh của Milim cũng như Clayman tại Walpurgis và cảm thấy không xứng với danh hiệu của mình, ông đã từ bỏ ngôi vị Ma Vương và về dưới trướng Milim.
Ken'ya Misaki (ケンヤ・ミサキ?)
Lồng tiếng bởi: Asai Ayaka[10]
Tên kiểu NhậtMisaki Ken'ya (三崎 (みさき) 剣也 (けんや)?). Một học sinh mà Shizu gửi gắm lại cho Rimuru, được bảo hộ bởi tinh linh ánh sáng, mang trong mình quả trứng dũng giả. Trong suy nghĩ của Rimuru, anh chắc chắn rằng Kenya sẽ trở thành một vị Anh hùng mạnh mẽ sau này.
Ryōta Sekiguchi (リョウタ・セキグチ?)
Lồng tiếng bởi: Ishigami Shizuka
Tên kiểu NhậtSekiguchi Ryōta (関口 (せきぐち) 良太 (りょうた)?). Một học sinh mà Shizu gửi gắm lại cho Rimuru, được bảo hộ bởi tinh linh gió. Cậu có sức mạnh hóa thú, nhưng gặp khó khăn trong việc điều khiển cũng như giữ cho lý trí tỉnh táo trong khi sử dụng sức mạnh này.
Gale Gibson (ゲイル・ギブスン Geiru Gibusun?)
Lồng tiếng bởi: Sato Gen
Một học sinh mà Shizu gửi gắm lại cho Rimuru, được bảo hộ bởi tinh linh đất.
Alice Rondo (アリス・ロンド Arisu Rondo?)
Lồng tiếng bởi: Shiraishi Haruka
Một học sinh mà Shizu gửi gắm lại cho Rimuru, được bảo hộ bởi tinh linh không gian.
Chloe Aubert (クロエ・オベール kuroe obēru?)
Lồng tiếng bởi: Tadokoro Azusa
Một học sinh mà Shizu gửi gắm lại cho Rimuru, sau này được Hinata truyền lại Quả trứng Dũng giả, thành Chân dũng giả mạnh nhất sở hữu "tinh linh thời gian" (trên danh nghĩa, thực chất là Thần trí hạch Chronoa). Sau khi chứng kiến sự "biến mất" của Rimuru - do sự xâm lược của Đế quốc phương Đông, cô quay về quá khứ hết lần này đến lần khác để cố gắng giúp Rimuru, tạo thành một "vòng tròn luẩn quẩn" về thời gian. Hiện nay "vòng tròn luẩn quẩn" ấy đã bị phá nhờ bước ngoặt khi Rimuru trở thành Ma vương.
Thần trí hạch Chronoa (神智核 (マナス) クロノア Manasu Kuronoa?)
Là Thần trí hạch cư trú trong cơ thể của Chloe Aubert. Cô chính là một nhân cách khác của Chloe, ẩn chứa những cảm xúc tiêu cực nhất của Chloe.
Velda Nava (ヴェルダナーヴァ Veruda Nāva?)
Một Bạo long từng được mệnh danh là "Tinh Vương Long" và là người sáng lập ra thế giới. Ông lấy vợ là loài người tên là Lucia và sinh ra Milim Nava. Gần như sức mạnh của ông đều chuyển sang cho con gái, sau khi chết ông được chuyển sinh thành con rồng làm thú nuôi của Milim và được đặt tên là Gaia. Cái chết của Gaia là nguyên nhân khiến Milim thành Ma Vương. Ellen sau đó kể lại câu chuyện này và gợi ý cho Rimuru trở thành Ma Vương, giúp hồi sinh mọi người trong Jura Tempest.
Laplace (ラプラス Rapurasu?)
Lồng tiếng bởi: Nakai Kazuya
Anh ta được coi là một người bạn cũng như cố vấn tin cậy của Clayman, cũng là người mạnh nhất trong Đoàn hề Ôn hoà. Laplace vốn là cựu Chân dũng giả, nhưng đã vong mạng và hồi sinh dưới dạng chủng loài Deathman.

Guy Crimson (ギィ・クリムゾン Gii Kurimuzon?)

Lồng tiếng bởi: Ishida Akira
Là Ma Vương đầu tiên trong số Ma Vương Thượng Cổ, đồng thời cũng là người đầu tiên được sinh ra bởi Đại Thánh Linh Bóng Tối trong Thất Sắc Thủy Tổ với biệt danh Rouge (Xích Sắc Thủy Tổ).

Leon Cromwell (レオン・クロムウェル Reon Kuromuueru?)

Lồng tiếng bởi: Fukayama Jun
Là Ma Vương đầu tiên được đề cập đến trong truyện. Anh chính là người đã triệu hồi Shizue và Ifrit. Sau này, anh được tiết lộ là người Trái Đất, sau khi bị rơi vào vòng xoáy không gian thì bị lạc mất Chloe Aubert - người bạn thân từ thuở thơ ấu của anh. Vì vậy, anh đã cố gắng triệu hồi Chloe trở lại bên mình, nhưng liên tục thất bại. Điều này vô tình lại là nguyên nhân khiến Shizue hận thù thế giới này.

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Light novel[sửa | sửa mã nguồn]

Fuse ban đầu đã đăng series bộ này dưới dạng tiểu thuyết web trên trang web nội dung do người dùng tạo Shōsetsuka ni Narō trong khoảng thời gian từ ngày 20 tháng 2 năm 2013 đến ngày 1 tháng 1 năm 2016.[1][12] Bộ truyện đã được mua lại để xuất bản in bởi Tạp chí Micro, người đã xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên, với hình minh họa của Mitz Vah, dưới Tiểu thuyết GC của họ vào tháng 5 năm 2014.[1][13] Nhà xuất bản tiếng Anh Yen Press đã công bố giấy phép của họ cho bộ truyện trong bảng điều khiển của họ tại Sakura-Con vào ngày 15 tháng 4 năm 2017.[14] Bản quyền light novel Việt Nam do Sky Light Novel phát hành.

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Kawakami Taiki đã phát động một manga thích ứng trong Kodansha 's manga shōnen tạp chí Monthly Shōnen Sirius vào ngày 26 tháng 3 năm 2015.[15] Kodansha USA đã công bố giấy phép của họ cho manga trong bảng điều khiển của họ tại New York Comic Con vào ngày 6 tháng 10 năm 2016.[16] Một manga thứ hai, có tựa đề Tensei-shitara Slime datta Ken: Cách mà Đất nước Quái vật bước đi (転生したらスライムだった件~魔物の国の歩き方~ Tensei-shitara Slime datta Ken: Mamono no kuni no arukikata?), với nghệ thuật của Okagiri Shō, đã được đăng trên trang web Comic Ride của Micro Magazine kể từ ngày 28 tháng 7 năm 2016.[1][17] Một manga ngoại truyện có tựa đề Tensei Shitara Shachiku Datta Ken được minh họa bởi Akechi Shizuku đã được công bố.[18]

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Một phim hoạt hình chuyển thể chiếu vào 2 tháng 10 năm 2018 trên Tokyo MX và các kênh truyền hình khác.[1][5] Bộ anime được sản xuất bởi 8bit và đạo diễn bởi Kikuchi Yasuhito, với Nakayama Atsushi là trợ lý đạo diễn, Ebata Ryouma và Kishida Takahiro thiết kế nhân vật Elements Garden sáng tác phần âm nhạc.[19] Nhạc chủ đề mở đầu là "Nameless story" được thực hiện bởi Terashima Takuma,[20] và nhạc kết thúc phim là "Another colony" do True trình bày.[21] Bài chủ đề mở đầu thứ hai là "Megurumono" (メグルモノ?) thực hiện bởi Terashima, còn nhạc chủ đề kết thúc thứ hai là "Little Soldier" (リトルソルジャー Ritoru Sorujā?) thực hiện bởi Azusa Tadokoro.[22]

Crunchyroll công chiếu anime bên ngoài khu vực châu Á với phụ đề tiếng Anh,[23] trong khi Funimation phát sóng một bản lồng tiếng Anh.[24] Bộ anime phát sóng khoảng 25 tập. Một tập OVA được phát hành vào ngày 29 tháng 3 năm 2019, đóng gói kèm với tập manga thứ 11.[25] Tại Nam Á và Đông Nam Á, Muse Communication cấp bản quyền công chiếu anime trên YouTube.

Vào ngày 21 tháng 9 năm 2021, một bản phim điện ảnh của anime được công bố và dự kiến khởi chiếu vào tháng 11 năm 2022.[26][27]

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Series light novel đã chạm ngưỡng hơn 4,5 triệu tập in.[1] Light novel xếp thứ tám trong sách hướng dẫn light novel hàng năm của Takarajimasha tên là Kono Light Novel ga Sugoi! vào năm 2017, trong thể loại tankōbon.[28] Và xếp hạng thứ sau năm 2018[29] và xếp hạng năm năm 2019.[30] Series light novel là tựa novel bán chạy thứ 5 năm 2018 với 539,277 bản được bán ra[31] và manga thích nghi của nó bán chạy thứ 9 năm 2018 với 3,460,066 bản in.[32]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c d e f Pineda, Rafael Antonio (ngày 7 tháng 3 năm 2018). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Light Novels Get Fall TV Anime”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2018.
  2. ^ “That Time I Got Reincarnated as a Slime - The Fall 2018 Anime Preview Guide”. Anime News Network. ngày 1 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2018.
  3. ^ a b c d e f g h i Pineda, Rafael Antonio (ngày 8 tháng 6 năm 2018). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime's Video Reveals Cast, Half-Year Run”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2018.
  4. ^ Sherman, Jennifer (ngày 17 tháng 9 năm 2018). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime Casts Takuma Terashima”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2018.
  5. ^ a b c d e f Hodgkins, Crystalyn (ngày 25 tháng 8 năm 2018). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime Reveals More Cast, October 1 Premiere”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2018.
  6. ^ a b Pineda, Rafael Antonio (ngày 26 tháng 7 năm 2018). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime Adds 2 Cast Members”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2018.
  7. ^ a b c d e f g Loo, Egan (ngày 26 tháng 9 năm 2018). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime Adds More Cast Members”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2018.
  8. ^ Pineda, Rafael Antonio (ngày 26 tháng 10 năm 2018). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime Adds 4 Cast Members”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2018.
  9. ^ Pineda, Rafael Antonio (ngày 14 tháng 1 năm 2019). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime Casts Takahiro Sakurai”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2019.
  10. ^ a b Sherman, Jennifer (ngày 26 tháng 12 năm 2018). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime Reveals Visual, Additional Cast”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2018.
  11. ^ “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime Adds Yoshimasa Hosoya to Cast”. Anime News Network. ngày 26 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2018.
  12. ^ “転生したらスライムだった件”. Shōsetsuka ni Narō (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018.
  13. ^ Komatsu, Mikikazu (ngày 9 tháng 3 năm 2018). “Fuse's "That Time I Got Reincarnated as a Slime" Light Novel Gets TV Anime Adaptation in Fall 2018”. Crunchyroll. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018.
  14. ^ Ressler, Karen (ngày 15 tháng 4 năm 2017). “Yen Press Licenses Saga of Tanya the Evil, Acca 13, One Week Friends, A Polar Bear in Love, More”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018.
  15. ^ “「転生したらスライムだった件」マンガ版がシリウスで始動”. Natalie (bằng tiếng Nhật). ngày 26 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018.
  16. ^ Hodgkins, Crystalyn (ngày 6 tháng 10 năm 2016). “Kodansha Comics Adds Frau Faust, Fairy Tail: Rhodonite, Kigurumi Defense Squad, Aho Girl, Hōseki no Kuni, More Manga”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018.
  17. ^ “転生したらスライムだった件~魔物の国の歩き方~ 第1話【単話版】 転生したらスライムだった件~魔物の国の歩き方~【単話版】 (コミックライド)”. Amazon.co.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018.
  18. ^ “That Time I Got Reincarnated as a Slime Gets Spinoff Manga”. Anime News Network. ngày 27 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2018.
  19. ^ Pineda, Rafael Antonio (ngày 9 tháng 3 năm 2018). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime's Teaser Video Reveals Staff, Visuals”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
  20. ^ Ressler, Karen (ngày 12 tháng 9 năm 2018). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime's Promo Video Previews Takuma Terashima's Opening Song”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018.
  21. ^ Pineda, Rafael Antonio (ngày 30 tháng 7 năm 2018). “TRUE Performs That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime's Ending Theme Song”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2018.
  22. ^ “New opening and ending songs” (bằng tiếng Nhật). ngày 14 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2019.
  23. ^ Pineda, Rafael Antonio (ngày 5 tháng 7 năm 2018). “Crunchyroll Announces RErideD, Double Decker, That Time I Got Reincarnated as a Slime, Radiant Anime for Fall”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.
  24. ^ Ressler, Karen (ngày 7 tháng 9 năm 2018). “Funimation Adds That Time I Got Reincarnated as a Slime, Double Decker!, Space Battleship Tiramisu Zwei Anime to Fall Simuldub Lineup”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2018.
  25. ^ Pineda, Rafael Antonio (ngày 7 tháng 12 năm 2018). “That Time I Got Reincarnated as a Slime Manga to Bundle Original Anime DVD”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2018.
  26. ^ “That Time I Got Reincarnated as a Slime Anime Gets Movie in Fall 2022”. Anime News Network. Ngày 21 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 9, 2021.
  27. ^ “That Time I Got Reincarnated as a Slime Film's Trailer Reveals Title, Story, November Opening”. Anime News Network. Ngày 2 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 3, 2022.
  28. ^ Pineda, Rafael Antonio (ngày 23 tháng 11 năm 2016). “Kono Light Novel ga Sugoi! 2017's Series Ranking”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2018.
  29. ^ Pineda, Rafael Antonio (ngày 24 tháng 11 năm 2017). “Kono Light Novel ga Sugoi! Reveals 2018 Series Ranking”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2018.
  30. ^ “Kono Light Novel ga Sugoi! Reveals 2019 Series Ranking”. Anime News Network. ngày 23 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2018.
  31. ^ “Top-Selling Light Novels in Japan by Series: 2018”. Anime News Network. ngày 29 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2018.
  32. ^ “Top-Selling Manga in Japan by Series: 2018”. Anime News Network. ngày 29 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2018.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]