Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc
United Nations General Assembly
الجمعية العامة للأمم المتحدة (tiếng Ả Rập)
联合国大会 (tiếng Trung)
Assemblée générale des Nations unies (tiếng Pháp)
Генера́льная Ассамбле́я ООН (tiếng Nga)
Asamblea General de las Naciones Unidas (tiếng Tây Ban Nha)
UN General Assembly hall.jpg
Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc tại trụ sở chính ở New York
Loại hình Principal Organ
Tên gọi tắt GA, UNGA
Lãnh đạo

Chủ tịch

Flag of Antigua and Barbuda.svg John Ashe
Hiện trạng Đang hoạt động
Thành lập 1945
Trang web www.un.org/ga

Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: United Nations General Assembly, viết tắt UNGA/GA) là một trong năm cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc. Được thành lập bởi các quốc gia thành viên, Đại Hội đồng triệu tập các kỳ họp thường niên dưới quyền của vị chủ tịch được bầu chọn trong vòng các đại biểu đến từ các quốc gia thành viên.

Là cơ quan duy nhất của Liên Hiệp Quốc có đại diện của tất cả thành viên, Đại Hội đồng có chức năng của một diễn đàn để các thành viên đề đạt sáng kiến trong những vấn đề về hoà bình, tiến bộ kinh tế và nhân quyền. Cũng có thể đề xuất các cuộc nghiên cứu, đưa ra những lời khuyên, cổ xuý cho nhân quyền, soạn thảo và phát triển công pháp quốc tế và xúc tiến những chương trình kinh tế, xã hội, văn hoá và giáo dục.

Sơ lược[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng họp của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc

Kỳ họp thường niên của Đại Hội đồng thường bắt đầu vào ngày thứ Ba thứ ba của tháng 9 và kết thúc vào giữa tháng 12 với chức danh Chủ tịch Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc được bầu vào lúc khởi đầu của mỗi kỳ họp. Kỳ họp đầu tiên được triệu tập ngày 10 tháng 1 năm 1946 tại Westminster Central Hall tại Luân Đôn với các đại biểu đến từ 51 quốc gia.

Đại Hội đồng biểu quyết bằng cách bỏ phiếu trong các vấn đề quan trọng - đề xuất hoà bình và an ninh; tuyển chọn thành viên cho các cơ quan; thu nhận, đình chỉ và trục xuất thành viên và các vấn đề ngân sách - cần được thông qua bởi đa số 2/3 số đại biểu có mặt và bỏ phiếu. Các vấn đề khác được quyết định bởi đa số quá bán. Mỗi quốc gia thành viên chỉ có một phiếu. Ngoại trừ việc thông qua các vấn đề về ngân sách bao gồm việc chấp nhận một thang bậc thẩm định, nghị quyết của Đại Hội đồng không có giá trị ràng buộc đối với thành viên. Đại Hội đồng có thể đề xuất về các sự việc trong khuôn khổ của Liên Hiệp Quốc, ngoại trừ các vấn đề liên quan đến hoà bình và an ninh thuộc thẩm quyền xem xét của Hội đồng Bảo an. Trên lý thuyết, qui chế một quốc gia, một lá phiếu cho phép các nước nhỏ với dân số tổng cộng chiếm chỉ 8% dân số thế giới có khả năng thông qua nghị quyết với đa số 2/3.

Suốt thập niên 1980, Đại Hội đồng trở thành diễn đàn cho "đối thoại Bắc-Nam" - thảo luận về các vấn đề nảy sinh giữa các nước đã công nghiệp hoá và các nước đang phát triển. Những vấn đề này được đưa lên hàng đầu vì cớ sự phát triển thần kỳ và vì cớ diện mạo đang thay đổi của thành phần thành viên Liên Hiệp Quốc. Năm 1945, Liên Hiệp Quốc có 51 thành viên, nay con số này là 193, với hơn hai phần ba là các quốc gia đang phát triển. Chiếm phần đa số, các nước đang phát triển có khả năng ấn định nghị trình của Đại Hội đồng (thông qua phương pháp phối hợp các nhóm quốc gia như Nhóm G7), chiều hướng các cuộc tranh luận và thực chất của các quyết định. Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, Liên Hiệp Quốc là nguồn cung ứng cho họ ảnh hưởng ngoại giao và diễn đàn chính cho những sáng kiến ngoại giao.

Những kỳ họp đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Những kỳ họp đặc biệt có thể được triệu tập theo yêu cầu của Hội đồng Bảo an, của đa số thành viên Liên Hiệp Quốc, hoặc của một thành viên nếu được đa số tán đồng. Một phiên họp đặc biệt được triệu tập vào tháng 10 năm 1995 với sự tham dự của những người đứng đầu chính phủ để kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Hiệp Quốc. Một kỳ họp đặc biệt khác được tổ chức vào tháng 9 năm 2000 để chào mừng thiên niên kỷ mới và xúc tiến Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Thêm một kỳ họp đặc biệt nữa (Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới 2005) được triệu tập vào tháng 9 năm 2000 kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập Liên Hiệp Quốc và thẩm định sự tiến bộ của Mục tiêu Thiên niên kỷ, cũng như thảo luận đề án In Larger Freedom (Tự do hơn nữa) của Kofi Annan.

Đại Hội đồng được phép hành động để duy trì hoà bình quốc tế nhằm hành xử trách nhiệm chính yếu của mình trong trường hợp Hội đồng Bảo an không có khả năng làm điều này, thường là do bất đồng giữa các thành viên thường trực. Nghị quyết "Đoàn kết cho Hoà bình", được thông qua năm 1950, dành cho Đại Hội đồng quyền triệu tập kỳ họp đặc biệt trong trường hợp khẩn cấp nhằm đưa ra những biện pháp chung - kể cả quyền sử dụng lực lượng vũ trang – trong trường hợp hoà bình bị xâm phạm hoặc có tiến hành xâm lấn. Cần có 2/3 số thành viên ủng hộ đề xuất. Những kỳ họp đặc biệt trong trường hợp khẩn cấp theo qui trình này đã được triệu tập trong mười trường hợp. Hai kỳ họp gần đây nhất, lần trước vào năm 1982 và lần sau từ 1997 đến 2003, đã được triệu tập nhằm phản ứng lại những hành động của Israel. Kỳ họp thứ chín xem xét tình hình tại những lãnh thổ Ả Rập đang bị chiếm đóng sau khi Israel đơn phương gia hạn luật pháp, quyền tài phán và quyền cai trị tại Cao nguyên Golan. Kỳ họp thứ mười khởi phát bởi sự chiếm đóng Khu Đông Jerusalem và các vấn đề Palestine.

Tại kỳ họp đặc biệt của Đại Hội đồng triệu tập năm 1947, Oswaldo Aranha, khi ấy là trưởng phái đoàn Brasil tại Liên Hiệp Quốc, khởi đầu truyền thống vẫn còn duy trì đến ngày nay, theo đó diễn giả đầu tiên của diễn đàn quốc tế quan trọng này luôn luôn là người Brasil.

Cải tổ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 3 năm 2005, Tổng Thư ký Kofi Annan đệ trình một bản tường trình, In larger Freedom, phê phán Đại Hội đồng là quá chú trọng đến sự đồng thuận đến nỗi đã thông qua những nghị quyết kém phẩm chất chỉ để phản ảnh "mẫu số chung thấp nhất của các quan điểm dị biệt". Ông cũng chỉ trích Đại Hội đồng chỉ cố thiết lập một nghị trình quá bao quát thay vì tập chú vào "những vấn đề căn bản chủ chốt như tình trạng di dân quốc tế và một công ước toàn diện về khủng bố đã được bàn luận từ lâu". Annan đề nghị thu gọn nghị trình, cơ cấu các uỷ ban và thủ tục của Đại Hội đồng; củng cố vai trò và thẩm quyền của chủ tịch Đại Hội đồng; nâng cao vai trò của những định chế dân sự và thiết lập cơ chế tái thẩm định những quyết định của các uỷ ban nhằm giảm thiểu những uỷ thác không được cấp ngân sách và phương cách quản trị vi mô của Ban Thư ký Liên Hiệp Quốc. Annan cũng nhắc nhở các thành viên Liên Hiệp Quốc về trách nhiệm của họ phải thực thi cải tổ nếu họ muốn nhìn thấy Liên Hiệp Quốc ngày càng hoạt động hiệu quả hơn.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]