Đoàn Thị Điểm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đoàn Thị Điểm[1] (段氏點, 1705-1748), hiệu: Hồng Hà Nữ Sĩ(紅霞女士), là nữ sĩ Việt Nam thời Lê trung hưng. Bà là tác giả tập truyện Truyền kỳ tân phả, và là dịch giả bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn.

Bà là người được đánh giá là bậc nhất về sắc đẹp lẫn tài văn trong những nữ sĩ danh tiếng nhất, bên cạnh là Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh QuanSương Nguyệt Anh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Thị Điểm là người làng Giai Phạm[2], huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc (nay thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên).

Theo gia phả họ Đoàn là Đoàn thị thực lục, thì tổ tiên của bà vốn họ Lê, đến đời cha bà là Đoàn Doãn Nghi (1678-1729), mới đổi ra họ Đoàn. Ông Doãn Nghi thi đỗ Hương cống (Cử nhân) đời Lê, thi Hội không đỗ, nên ở nhà dạy học và bốc thuốc. Ông cưới vợ (họ Vũ, không rõ tên), sinh được hai con: con cả là Đoàn Doãn Luân (1700 - ?)[3] và con thứ là Đoàn Thị Điểm [4].

Lúc trẻ, bà có tiếng thông minh, đẹp người, đẹp nết, chăm học, có tài văn và giỏi cả việc nữ công [5]. Cho nên năm 16 tuổi, bà được Thượng thư Lê Anh Tuấn nhận làm con nuôi để sau dâng lên chúa Trịnh, nhưng bà không chịu [6].

Suốt thời gian từ lúc ấu thơ đến tuổi trưởng thành, bà thường sống với cha và anh ở nơi cha dạy học là làng Lạc Viên (huyện An Dương, tỉnh Kiến An; nay thuộc thành phố Hải Phòng).[7].

Năm bà 25 tuổi (1729), cha mất, bà cùng với gia đình của anh dời đến ngụ ở làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (nay là huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên).

Chẳng bao lâu sau anh mất (không rõ năm), bỏ lại một đàn con nhỏ, một mình Đoàn Thị Điểm phải vừa làm thuốc, vừa dạy học để có tiền nuôi mẹ và giúp đỡ chị dâu nuôi các cháu.

Theo Từ điển nhân vật lịch Việt Nam, khi ấy ở Sài Trang thuộc huyện Đường Hào có một người con gái được tiến cung, và bà đã được vời vào cung làm Giáo thụ để dạy người con gái ấy. Đến năm 1739, nhân trong nước có loạn, bà xin từ chức về ngụ ở xã Chương Dương (nay thuộc Thường Tín, ngoại thành Hà Nội) tiếp tục làm nghề dạy học [8].

Bấy giờ, có nhiều đến hỏi, trong đó có cả những người quyền quý, nhưng bà đều từ chối [9]. Mãi đến năm 37 tuổi (1742), bà mới nhận lời lấy Nguyễn Kiều (1695?-1792?), một Tiến sĩ nổi tiếng hay chữ đã góa vợ. Nhưng vừa cưới xong, Nguyễn Kiều lại phải đi sứ sang Trung Quốc ba năm. Theo Từ điển văn học (bộ mới), có lẽ trong thời gian xa chồng này bà đã dịch ra quốc âm tập thơ Chinh phụ ngâm của danh sĩ Đặng Trần Côn.

Năm 1745, Nguyễn Kiều về nước. Năm 1748, ông được cử làm Tham thị ở Nghệ An[10]. Đoàn Thị Điểm cùng đi với chồng, nhưng trên đường đi, bà bị cảm nặng, chạy chữa không khỏi, cuối cùng mất ở Nghệ An vào ngày 11 tháng 9 (âm lịch) năm đó (Mậu Thìn, 1748), lúc 43 tuổi [11]

Thương cảm người bạn đời vắn số, Nguyễn Kiều viết bài văn tế, hết lời ca tụng văn tài và đức hạnh của bà. Trong đó có câu:

Đào chưa tươi đã khô
Quế đang thơm đã rũ
Rừng sâu bể rộng nàng hỡi đi đâu
Ngọc nát châu chìm lòng tôi quặn nhớ...

Sự nghiệp văn chương[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đoàn thị thực lục, lúc sinh thời bà thường xướng họa thơ với cha, với anh và với chồng[12]. Song cho đến nay, về sáng tác, bà chỉ còn có tập truyện chữ Hán tên là Truyền kỳ tân phả (khắc in lần đầu năm Tân Mùi, 1811), và một ít thơ văn (gồm chữ Hán, chữ Nôm) trong tập Hồng Hà phu nhân di văn mới được phát hiện gần đây, nhưng trong đó có không ít sai lẫn [13].

Về bản dịch Chinh phụ ngâm (Chinh phụ ngâm khúc diễn âm) của bà, hiện nay vẫn chưa khẳng định là bản nào. Nhiều người cho đó là bản đang lưu hành rộng rãi, nhưng có ý kiến nói bản đó là của Phan Huy Ích[14], còn bản của nữ sĩ họ Đoàn là một bản khác. Song theo GS. Nguyễn Lộc, thì "một điều có thể khẳng định được là bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm là bản dịch đầu tiên của tác phẩm này"[13].

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Có lần Đoàn Doãn Luân thấy Đoàn Thị Điểm đang ngồi soi gương, bèn ra một vế rằng:

Đối kính họa mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm (nghĩa là “soi gương vẽ mày, một nét hóa thành hai nét”; song chữ điểm còn là tên bà Điểm, thành ra lại có nghĩa nữa là “một bà Điểm hóa hai bà Điểm”).

Lúc ấy, ông Luân đang ngồi trên cầu ao rửa tay, bà liền đối rằng:

Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân (nghĩa là “ra ao ngắm trăng, một vầng chuyển hóa hai vầng; song chữ luân còn là tên của ông Luân, thành ra lại có nghĩa nữa là “một ông Luân hóa hai ông Luân)[15].

Ngoài ra, trong dân gian còn truyền tụng một số chuyện như “Da trắng vỗ bì bạch" (ra vế đối cho Cống Quỳnh đối lại), "Hổ thật thành hổ giấy" (ra vế đối cho "Tràng An tứ hổ" đối lại), "Trượng phu Bắc quốc đều từ đó mà ra" (đáp lại câu đối của sứ thần Trung Quốc), v.v...[16].

Thông tin liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây, chồng nữ sĩ Đoàn Thị Điểm là Tiến sĩ Nguyễn Kiều được an táng tại khu vực Vườn Đào (thuộc phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội ngày nay). Do yêu cầu giải phóng mặt bằng để tiến hành thi công công trình phục vụ dân sinh, Hội Khảo cổ học Việt Nam đã phối hợp với Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội tiến hành khai quật khẩn cấp ngôi mộ ông vào ngày 24 tháng 7 năm 2011, và đưa về hợp táng bên mộ bà ở tại thôn Phú Xá (nay là cụm 4, cũng thuộc phường Phú Thượng), sau "259 năm xa cách"[17].

Hiện nay tại Hà Nội cũng như một số tỉnh thành phố ở Việt Nam có nhiều đường phố và trường học mang tên Đoàn Thị Điểm.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhiều người soạn, Từ điển bách khoa Việt Nam (Tập I), mục từ Đoàn Thị Điểm”. Trung tâm biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1995.
  • Trần Văn Giáp, tiểu truyện “Đoàn Thị Điểm” in trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2003.
  • Nguyễn Lộc, mục từ Đoàn Thị Điểm và “Chinh phụ ngâm” trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá thế, Từ điển nhân vật lịch Việt Nam, mục từ “Đoàn Thị Điểm” và “Đoàn Doãn Luân”. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.
  • Nguyễn Thạch Giang, Văn học thế kỷ XVIII, mục “Đoàn Thị Điểm”. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2004.
  • Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (Quyển I, mục từ "Đoàn Thị Điểm"), Sài Gòn, 1966.
  • Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển 2, mục "Đoàn Thị Điểm"). Quốc học tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1963.
  • Thanh Lãng, Bản lược đồ văn học Việt Nam (Quyển Thượng). Nhà xuất bản Trình Bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
  • Trúc Khê, truyện “Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm” trong Tuyển tập Trúc Khê Ngô Văn Triện. Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2003.
  • Thái Vũ, truyện “Đoàn Thị Điểm” trong Chuyện hay nhớ mãi. Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1987.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bởi Đoàn Thị Điểm lấy chồng họ Nguyễn, nên có sách chép là Nguyễn Thị Điểm (chú thích của GS. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1968, tr. 303). Theo Thái Vũ (tr. 72) thì bà còn có biệt hiệu là Bang Tang (tức tự ví như nữ sĩ Ban Chiêu thời Đông Hán, Trung Quốc).
  2. ^ Theo nhà văn Trúc Khê, làng vốn có tên là "Hiến Phạm", sau vì kiêng chữ "hiến" là miếu hiệu của vua Thiệu Trị (Hiến Tổ) nên mới đổi ra là "Khải Phạm", song người ta cứ gọi lầm là "Giai Phạm" (tr. 526).
  3. ^ Đoàn Doãn Luân có sách chép là Đoàn Doãn Luân, hoặc Nguyễn Trác Luân; đỗ đầu thi Hương (theo GS. Thanh Lãng [tr. 512]. Thái Vũ ghi ông đỗ đầu xứ [tr. 72]. Từ điển nhân vật lịch Việt Nam [tr. 173] ghi ông đỗ Hoàng giáp năm 1719 lúc 19 tuổi, có lẽ là nhầm. Mặc dù đỗ cao, nhưng ông không ra làm quan chỉ ở nhà dạy học. Năm 1729, cha ông mất, ít lâu sau ông cũng lâm bệnh mất.
  4. ^ Dẫn lại theo Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tr. 1122.
  5. ^ Theo Văn học thế kỷ XVIII, tr. 214.
  6. ^ Ghi theo Từ điển văn học (bộ mới, tr. 433) và Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (tr. 1122). Từ điển nhân vật lịch Việt Nam (tr. 180) chép tương tự, nhưng cho biết "bà chỉ ở ít lâu rồi xin về".
  7. ^ Ghi theo Văn học thế kỷ XVIII (tr. 214) và Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (tr. 1122).
  8. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch Việt Nam (tr. 180-181). Sau này trong số học trò giỏi của bà có Đào Duy Doãn, thi đỗ Tiến sĩ năm 1760, làm quan trải đến chức Hiến sát sứ (theo Văn học thế kỷ XVIII, tr. 214).
  9. ^ Theo Từ điển văn học (bộ mới), tr. 433.
  10. ^ Ghi theo Từ điển văn học (bộ mới, tr. 433), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (tr. 1123), Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (Quyển I, tr. 260). Sách Từ điển bách khoa Việt Nam (Tập I, tr. 834) và Văn học thế kỷ XVIII (tr. 157) đều ghi Nguyễn Kiều làm "Đốc đồng" (chúc quan coi việc xét xử, án kiện ở cấp trấn) trấn Nghệ An (tr. 834).
  11. ^ Theo Từ điển văn học (bộ mới, tr. 433), Văn học thế kỷ XVIII (tr. 214), Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (Quyển I, tr. 260) và một vài sách khác. Riêng Từ điển nhân vật lịch Việt Nam (bản in 1992, tr. 181) và Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quyển 2, tr. 157) ghi bà mất năm Bính Dần (1746), nhưng không dẫn nguồn.
  12. ^ Theo Văn học thế kỷ XVIII (tr. 214).
  13. ^ a ă Theo Từ điển văn học (bộ mới, tr. 433).
  14. ^ Theo những tài liệu mới phát hiện gần đây, có xu hướng nghiên về Phan Huy Ích (Nguyễn Lộc, Từ điển văn học, bộ mới, tr. 260).
  15. ^ Tuyển tập Trúc Khê Ngô Văn Triện, tr. 530.
  16. ^ Xem trong Thái Vũ, Chuyện hay nhớ mãi, tr. 73-75.
  17. ^ Xem chi tiết ở đây: [1], [2].