Chuột lang nước

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chuột lang nước
Hydrochoeris hydrochaeris Zoo Praha 2011-3.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Rodentia
Phân bộ (subordo) Hystricomorpha
Họ (familia) Caviidae
Phân họ (subfamilia) Hydrochoerinae
Chi (genus) Hydrochoerus
Loài (species) H. hydrochaeris
Danh pháp hai phần
Hydrochoerus hydrochaeris
(Linnaeus, 1766)
Phạm vi phân bố
Phạm vi phân bố
Danh pháp đồng nghĩa

Chuột lang nước (danh pháp hai phần: Hydrochoerus hydrochaeris) là loài động vật thuộc Họ Chuột lang. Chúng được Linnaeus mô tả năm 1766[2] và là loài gặm nhấm lớn nhất hiện còn tồn tại trên thế giới.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này thường sinh sống ở các thảo nguyên, rừng rậm gần nguồn nước, chúng có khả năng hoạt động tốt cả trên cạn lẫn dưới nước. Chúng thường sinh sống thành từng đàn khoảng từ 10-20 con, trong đàn có tính xã hội cao. Loài này thường bị săn bắt để lấy thịt và da, tuy nhiên do khả năng sinh sản và thích nghi tốt nên không phải là loài bị đe dọa. Ở độ tuổi trưởng thành, chúng cân nặng tới 60kgu. Trên thế giới đã từng ghi nhận sự xuất hiện của một con chuột nặng tới 105,4 kg.[cần dẫn nguồn] Loài chuột này sống ở vùng Panama cho tới Đông Bắc Argentina, Đông dãy Andes (Nam Mỹ). Chuột lang nước là món ăn yêu thích của báo đốm, mèo rừng, chim ưng và đặc biệt là trăn Nam Mỹ khổng lồ.

Chân của chuột lang nước Nam Mỹ có màng, nên bơi lội dễ dàng ở dưới nước. Chúng thích nghi với môi trường đầm lầy, ao hồ, vùng đất ngập nước, thậm chí cả ở những con sông, những cánh rừng nhiệt đới. Loài này có khả năng lặn sâu và nín thở 5 phút dưới nước.

Chế độ ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Chuột lang nước là động vật ăn thực vật, chủ yếu ăn các loại cỏ và thực vật thủy sinh[3][4], cũng như vỏ cây ăn quả và cây[5]. Chúng ăn rất chọn lọc[6], ăn lá của một loài và bỏ qua loài khácxung quanh nó, và ăn nhiều hơn loài cây hơn trong mùa khô, khi có ít cây có sẵn. Trong khi họ ăn cỏ trong mùa mưa, chúng phải chuyển sang lau sậy phong phú hơn trong mùa khô[7]. Cây mà chuột lang nước ăn trong mùa hè mất đi giá trị dinh dưỡng của chúng trong mùa đông, do đó, không được tiêu thụ tại thời điểm đó[6]. Hàm của chuột lang nước là không vuông góc và do đó chúng nhai thức ăn bằng cách đưa hàm tới và lui thay vì đưa ngang[8]. Chuột lang nước ăn phân của chúng như là một nguồn thực vật đường ruột do vi khuẩn, để giúp tiêu hóa cellulose trong cỏ hình thành chế độ ăn bình thường của chúng, và để trích xuất tối đa của protein và vitamin từ thực phẩm của chúng. Chúng cũng có thể nôn ra thức ăn nhai lại một lần nữa, tương tự như bò nhai lại[9].

Giống như người anh em họ của nó là chuột lang, chuột lang nước không có khả năng tổng hợp vitamin C, và chúng không bổ sung vitamin C trong điều kiện nuôi nhốt đã được báo cáo để phát triển các bệnh về lợi như là một dấu hiệu của bệnh còi[10].

Chúng có thể có tuổi thọ 8-10 năm trong tự nhiên[11], nhưng sống ít hơn bốn năm trung bình, vì chúng là "một món ăn yêu thích của báo đốm, puma, mèo rừng, chim ưng và caiman"[12]. Chuột lang nước cũng là con mồi ưa thích của anaconda[13].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Queirolo, D., Vieira, E. & Reid, F. (2008). Hydrochoerus hydrochaeris. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2011.1. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2011. 
  2. ^ a ă Wilson, Don E.; Reeder, DeeAnn M. biên tập (2005). Hydrochoeris hydrochaeris. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ Capybara Facts. Smithsonian National Zoological Park. Retrieved on December 16, 2007.
  4. ^ J Forero-Montana, J Betancur, J Cavelier. (2003). “Dieta del capibara Hydrochaeris hydrochaeris (cavia: Hydrochaeridae) en Caño Limón, Arauca, Colombia”. Rev. Biol. Trop 51 (2): 571–578. PMID 15162749.  PDF
  5. ^ Capybara. Palm Beach Zoo. Retrieved on December 17, 2007.
  6. ^ a ă Quintana, R.D., S. Monge, A.I. Malvárez (1998). “Feeding patterns of capybara Hydrochaeris hypdrochaeris (Rodentia, Hydrochaeridae) and cattle in the non-insular area of the Lower Delta of the Parana River, Argentina”. Mammalia 62 (1): 37–52. doi:10.1515/mamm.1998.62.1.37. 
  7. ^ Barreto, Guillermo R.; Herrera, Emilio A. (1998). “Foraging patterns of capybaras in a seasonally flooded savanna of Venezuela”. Journal of Tropical Ecology 14: 87. doi:10.1017/S0266467498000078. JSTOR 2559868. 
  8. ^ Capybara. Hydrochaeris hydrochaeris. San Francisco Zoo
  9. ^ Lord-Rexford, D. (1994). “A descriptive account of capybara behaviour”. Studies on neotropical fauna and environment 29 (1): 11–22. doi:10.1080/01650529409360912. 
  10. ^ Cueto, GR; Allekotte, R; Kravetz, FO (2000). “Scurvy in capybaras bred in captivity in Argentine”. Journal of wildlife diseases 36 (1): 97–101. PMID 10682750. 
  11. ^ Burton M and Burton R. The International Wildlife Encyclopedia. Marshall Cavendish, 2002, ISBN 0-7614-7269-X, p. 384
  12. ^ Bristol Zoo Gardens (UK) ''Capybara''. Bristolzoo.org.uk. Retrieved on 2011-12-07.
  13. ^ Capybara, the master of the grasses: pest or prey Sounds and Colours. Retrieved on January 23, 2011.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]