Hannah Montana: The Movie

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hannah Montana: The Movie

Poster chính thức của phim
Thông tin phim
Đạo diễn Peter Chelsom[1]
Sản xuất Billy Ray Cyrus
Tác giả Dan Berendsen[1]
Diễn viên Miley Cyrus
Emily Osment
Mitchel Musso
Jason Earles
Billy Ray Cyrus
Moises Arias
Âm nhạc Alan Silvestri
Quay phim David Hennings
Dựng phim Virginia Katz
Hãng sản xuất It's a Laugh Productions
Millar Gough Ink
Walt Disney Pictures
Phát hành Walt Disney Pictures
Công chiếu Cờ của Hoa Kỳ 10 tháng 4, 2009[2]
Cờ của Việt Nam 5 tháng 6, 2009 [3]
Độ dài 102 phút
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí $35 triệu
Doanh thu $110.8 triệu

Hannah Montana: The Movie là phiên bản điện ảnh của series phim dài tập trên kênh Disney Hannah Montana, được chiếu tại các rạp phim. Phim bắt đầu được khởi quay vào tháng tư, 2008, phần lớn tại Columbia, TennesseeLos Angeles, California và hoàn thành vào tháng bảy, 2008. Phim đã công chiếu tại Mỹ ngày 10 tháng 4, 2009, đã khởi chiếu vào ngày 1 tháng 5, 2009 tại AnhÚc vào ngày 25 tháng 6, 2009[4]. Tại Việt Nam, phim ra mắt khán giả ngày 5 tháng 6, 2009 với cùng tên gọi. Miley bị đề cử một Giải Mâm xôi vàng cho diễn viên nữ chính tồi nhất.

Tagline: Cô gái vàng của hai thế giới, đã đến lúc phải chọn một thôi.

Quốc gia Đánh giá
Flag of the United States Mỹ G

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Miley Stewart (Miley Cyrus) đã quá mệt mỏi với sự nổi tiếng của Hannah Montana. Tại sinh nhật thứ 16 của Lily, Miley bị buộc phải đến với tư cách của Hannah Montana và biểu diễn bài "Let's Get Crazy", việc này khiến Lily giận Miley vì mọi người thay vì chú ý đến Lily trong buổi sinh nhật của chính mình thì lại quay sang chú ý đến cô bạn thân Hannah Montana. Sau khi sự việc con gái "Hannah" tranh giành một đôi giày với Tyra Banks đưa lên báo, Robby Ray (Billy Ray Cyrus) đánh lừa đưa cô con gái của mình để về quê, Crowley Corners, Tennessee để thấy được những điều gì thật cần thiết trong cuộc sống của cô. Khi Miley hỏi về việc Hannah Montana sẽ không còn, bố của cô bảo rằng hãy hỏi ông sau hai tuần nữa.

Trong thời gian lưu tại đây, Miley dành nhiều thời gian bên cạnh Lily nhưng tốn rất nhiều thời gian để thích nghi với cuộc sống tại một nông trại.

Cả Miley và Robbie Ray đều có người yêu tại đây: bạn cũ của Miley là Travis Brody (Lucas Till) và của Robby Ray là Loralei (Melora Hardin). Bên cạnh đó, ông Granger (Peter Gunn), một phóng viên người Anh muốn vạch trần bí mật của Miley. Travis đã biết được bí mật của Miley khiến Miley suy nghĩ rất nhiều. Cuối cùng, Miley tiết lộ mình là Hannah Montana nhưng được mọi người xem giữ kín bí mật để cô tiếp tục biểu diễn. Ông Granger đã định thông báo thông tin này, nhưng trước sự hâm mộ cuồng nhiệt của 2 cô con gái đến tận nơi xem Hannah Montana biểu diễn, ông đã quyết định từ bỏ.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Vai nhỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày công chiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Trình chiếu[12][13] Hmmovie.png
Quốc gia Thời gian Quốc gia Thời gian
Cờ của Chile Chile 28 tháng 04, 2009 Cờ của Hàn Quốc Hàn Quốc 28 tháng 05
Cờ của Canada Canada 10 tháng 04 Cờ của Đức Đức 04 tháng 06
Flag of the United States Mỹ Cờ của Malaysia Malaysia
Cờ của Philippines Philippines 22 tháng 04 Cờ của Brasil Brasil 05 tháng 06
Cờ của México Mexico 30 tháng 04 Cờ của Bulgaria Bulgaria 12 tháng 06
Cờ của Việt Nam Việt Nam 5 tháng 06 Cờ của Indonesia Indonesia 17 tháng 06
Cờ của Ba Lan Ba Lan 01 tháng 05 Cờ của Pháp Pháp
Cờ của Colombia Colombia Cờ của Peru Peru 18 tháng 06
Cờ của Ecuador Ecuador Cờ của Singapore Singapore
Cờ của Ireland Ireland Cờ của Uruguay Uruguay 19 tháng 06
Cờ của Malta Malta Cờ của Úc Úc 25 tháng 06
Cờ của Na Uy Na Uy Cờ của New Zealand New Zealand 02 tháng 07
Cờ của Phần Lan Phần Lan Cờ của România Rumani 03 tháng 07
Cờ của Thụy Điển Thuỵ Điển Cờ của Bỉ Bỉ 08 tháng 07
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Vương quốc Anh Flag of the Netherlands Hà Lan 09 tháng 07
Cờ của Ý Ý Cờ của Cộng hòa Séc Séc
Cờ của Trinidad và Tobago Trinidad & Tobago 06 tháng 05 Cờ của Venezuela Venezuela 10 tháng 07
Cờ của Tây Ban Nha Tây Ban Nha 08 tháng 05 Cờ của Paraguay Paraguay
Cờ của Đan Mạch Đan Mạch Cờ của Slovakia Slovakia 16 tháng 07
Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc Đài Loan 09 tháng 05 Cờ của Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha 30 tháng 07
Cờ của Panama Panama 15 tháng 05 Cờ của Hồng Kông Hồng Kông 13 tháng 08
Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Thổ Nhĩ Kỳ Cờ của Bolivia Bolivia 20 tháng 08
Cờ của Argentina Argentina 21 tháng 05 Cờ của Thái Lan Thái Lan 15 tháng 10
Cờ của Ai Cập Ai Cập 27 tháng 05

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quá trình thực hiện bộ phim, đã có một tại nạn xảy ra tại trường quay ở Tennessee, một cơn gió mạnh đã húc đổ màn hình chiếu vào đám đông diễn viên phụ nhưng may mắn là không có ai bị thương.

Các ngôi sao như Taylor Swift và rocker người Anh Steve Rushton cũng xuất hiện trong bộ phim và hát bài hát cho phim.

Để phục vụ cho website chính thức của phim trong tương lai, hãng phim Walt Disney đã mua những tên miền "Hannah Montana: The Movie": "Family Reunion", "Welcome Home", "Off the Charts", "Ultimate Choice", "Where It All Began", "Cross-Country Adventure", và "Old Friends, New Beginnings"[14].

Tháng 7, 2008, phim hoàn thành phần quay phim và bắt đầu làm hậu kỳ.

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12, 2008, phim được xếp hạng G bởi MPAA.[15]

15 tháng 1, 2009, trailer cùng với áp phích của phim được ra mắt.[16]

16 tháng 2, 2009, video bài hát The ClimbHoedown Throwdown được ra mắt trên kênh Disney.

Một trò chơi dựa theo phim cũng sẽ được phát hành vào ngày 7 tháng 4, 2009, ba ngày trước khi phim ra mắt (chơi được với PlayStation 3, Xbox 360, Nintendo DS, Wii, Microsoft Windows, và điện thoại di động)

10 tháng 4, 2009, phim chính thức chiếu ở các rạp của Mỹ.

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc phim ra mắt ngày 24 tháng 3, 2009 Nhạc phim ban đầu được viết bởi ứng viên giải Oscars - Alan Sivestri, ông đã sáng tác được bài Butterfly Fly Away trước khi phải ra đi vì bị trùng thời gian với phim G.I. Joe: The Rise of Cobra - phim mà ông của đã kí kết hợp đồng, tiếp tục chiếc ghế của ông là John Debney. Soundtrack của phim gây ngạc nhiên cho nhiều người vì chỉ đứng vị trí thứ 2 bảng xếp hạng Billboard 200 với 137.592 bản trong tuần đầu tiên và sau đó tụt xuống hạng 5, cuối cùng thì sau vài tuần, soundtrack phim đã đứng hạng nhất Billboard Top 200 và hạng nhất Các album nhạc đồng quê. Nhiều bài hát từ soundtrack của phim lọt vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100, đó là: "The Climb", "Hoedown Throwdown", "Let's Get Crazy", "You'll Always Find Your Way Back Home", "Butterfly Fly Away","Let's do this" và "Crazier".

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh thu[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim gây ấn tượng khi ra mắt ở vị trí thứ nhất bảng xếp hạng với khoảng 17,4 triệu USD[17], vượt quá mong đợi của Walt Disney Pictures. Kết thúc cuối tuần đầu tiên của phim, Walt Disney đã thu về được 32.324.487 USD từ bộ phim, hơn 5,2 triệu USD so với Fast and Furious và áp đảo đối thủ trực tiếp là Dragonball Evolution khoảng 30 triệu USD[18], trở thành bộ phim có doanh thu 3 ngày cuối tuần cao nhất Bắc Mỹ.

Phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim được đánh giá 46% (vào ngày 11 tháng 4, 2009) trên trang Rotten Tomatoes[19]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • MTV Movies Awards 2009
    • Nữ diễn viên có diễn xuất đột phá (Miley Cyrus) - Đề cử
    • Bài hát hay nhất trong phim (The Climb) - Đoạt giải
  • Teen Choice Awards 2009
    • Nữ diễn viên yêu thích cho phim ca nhạc/nhảy (Miley Cyrus) - Đoạt giải
    • Nam diễn viên yêu thích cho phim ca nhạc/nhảy (Jason Earls, Lucas Till) - Đề cử
    • Gương mặt mới được yêu thích (Emily Osment) - Đề cử
    • Phim ca nhạc/nhảy được yêu thích nhất - Đề cử
    • Nhạc phim được yêu thích nhất - Đề cử
    • Đĩa đơn được yêu thích nhất (The Climb) - Đoạt giải
    • Màn "khóa môi" được yêu thích nhất (Miley Cyrus và Lucas Till) - Đề cử
    • Phim dành cho trẻ em ấn tượng nhất - Đoạt giải

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ “Production On 'Hannah Montana: The Movie' Is Underway”. News4Jax. 24 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2008. 
  2. ^ MTV News
  3. ^ http://www.megastarmedia.net/comingsoon.aspx
  4. ^ http://www.variety.com/article/VR1117981211.html?categoryid=13&cs=1
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên announce
  6. ^ Anna Dimond (5 tháng 6 năm 2008). “The Office's Melora Hardin on Jan and the show's finale - TV Previews”. TV Guide. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2008.  Đã bỏ qua văn bản “TVGuide.com” (trợ giúp)
  7. ^ “oceanUP: Miley Cyrus' New Love Interest Lucas Till!”. oceanUP. 5 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2008. 
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên GuestCast3
  9. ^ Beverly Keel (8 tháng 6 năm 2008). “Taylor Swift signs, and signs, and signs”. The Tennessean. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2008.  Đã bỏ qua văn bản “www.tennessee.com” (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “The Tennessee” (trợ giúp)
  10. ^ a ă â Ken Tucker (8 tháng 6 năm 2008). “Rascal Flatts To Appear In Hannah Montana Movie”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2008. 
  11. ^ “NewsChannel 5.com - Nashville, Tennessee - Filming For Hannah Montana Movie Starts In Columbia”. NewsChannel 5. 19 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2008. 
  12. ^ http://www.imdb.com/title/tt1114677/releaseinfo
  13. ^ http://www.boxofficemojo.com/movies/?page=intl&id=hannahmontanamovie.htm
  14. ^ Josh E. Armstrong (14 tháng 4 năm 2008). “Hannah Montana movie title? Camp Rock 2?”. Conversational Ball. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2008.  Đã bỏ qua văn bản “ Conversational Ball ” (trợ giúp)
  15. ^ “Hannah Montana: The Movie (2009)”. Box Office Mojo. 11 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2008. 
  16. ^ http://justjaredjr.buzznet.com/2009/01/15/hannah-montana-official-trailer/
  17. ^ http://www.boxofficemojo.com/daily/chart/?sortdate=2009-04-10&p=.htm
  18. ^ http://www.boxofficemojo.com/weekend/chart/?yr=2009&wknd=15&p=.htm
  19. ^ http://www.rottentomatoes.com/m/hannah_montana_the_movie/

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Mitchel Musso Bản mẫu:Peter Chelsom