Hans Adolf Krebs

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hans Adolf Krebs

Sinh 25 tháng 8, 1900(1900-08-25)
Hildesheim, Đức
Mất 22 tháng 11, 1981 (81 tuổi)
Oxford, Anh
Quốc tịch Anh
Quốc tịch Đức
Ngành Y học nội khoa, Hóa sinh
Nơi công tác Kaiser Wilhelm Institute for Biology
Đại học Hamburg
Đại học Cambridge
Đại học Sheffield
Đại học Oxford
Alma mater Đại học Göttingen
Đại học Freiburg
Đại học Berlin
Đại học Hamburg
Nổi tiếng vì phát hiện chu trình urêchu trình Krebs
Giải thưởng giải Nobel Sinh lý và Y khoa (1953)

Sir Hans Adolf Krebs (25.8.1900 – 22.11.1981) là một thày thuốc và nhà hóa sinh người Anh gốc Đức-Do Thái. Krebs nổi tiếng vì việc phát hiện ra 2 chu kỳ trao đổi chất quan trọng: chu trình urêchu trình Krebs. Chu kỳ sau, loạt then chốt các phản ứng hóa học trong trao đổi chất, tạo ra năng lượng trong các tế bào, cũng được gọi là "chu trình axít xitric" đã mang lại cho ông giải Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1953 (chung với Fritz Albert Lipmann).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Krebs sinh tại Hildesheim, Đức, con của Georg Krebs, một bác sĩ giải phẫu tai mũi họng và Alma Davidson. Ông học trung tiểu học ở Hildesheim, rồi học y họcĐại học GöttingenĐại học Freiburg từ 1918–1923. Ông đậu bằng tiến sĩĐại học Hamburg năm 1925, sau đó nghiên cứu hóa họcBerlin trong một năm, rồi trở thành phụ tá của Otto Warburg tại Viện Sinh học hoàng đế Wilhelm (Kaiser Wilhelm Institute for Biology) tới năm 1930.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Krebs gia nhập quân đội Đức năm 1932, và phục vụ ở sư đoàn bộ binh cơ giới hóa thứ 13 bất kể niềm tin Do Thái của mình. Krebs trở lại ngành y học lâm sàng ở bệnh viện thị xã Altona, (Hamburg) và sau đó ở bệnh xá của Đại học Freiburg, nơi ông nghiên cứu và phát hiện ra chu trình urê. Vì gốc gác Do Thái, ông bị cấm không được hành nghề y sĩ ở Đức, do đó ông đã di cư sang Anh năm 1933. Ông được mời tới làm việc trong phân khoa hóa sinh của Đại học Cambridge, dưới quyền của Sir Frederick Gowland Hopkins (1861–1947). Krebs trở thành giáo sư môn hóa sinhĐại học Sheffield năm 1945.

Lãnh vực nghiên cứu của Krebs là sự trao đổi chất trung gian. Ông đã phát hiện ra chu trình urê năm 1932, và chu trình Krebs năm 1937 ở Đại học Sheffield. Ông chuyển sang làm giáo sư hóa sinh ở Đại học Oxford năm 1954 và sau khi nghỉ hưu, ông vẫn tiếp tục làm việc ở Bệnh xá Radcliffe, Oxford cho tới khi từ trần.

Giải thưởng và Vinh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1953 ông đoạt giải Nobel Sinh lý và Y khoa cho công trình phát hiện ra chu trình Krebs. Ngoài giải Nobel ông cũng đoạt giải Albert Lasker cho nghiên cứu Y học cơ bản, Huy chương Otto Warburg năm 1969 và Huy chương Copley. Ông được phong tước hầu năm 1958. Ông từng là ủy viên giám đốc của Trinity College và cũng được bầu làm ủy viên giám đốc danh dự của Girton College, Đại học Cambridge năm 1979.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Krebs kết hôn với Margaret Cicely Fieldhouse năm 1938. Họ có 3 người con: 2 con trai John Krebs (nay là nam tước Krebs, một nhà nghiên cứu chim và nghị sĩ Thượng Nghị viện Vương quốc Anh) và Paul, và con gái, Helen. Krebs qua đời ở Oxford, Anh năm 1981.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Weber, G (2001). “Sir Hans A. Krebs Centenary Lecture: cancer and clinical targeting”. Adv. Enzyme Regul. 41: 1–29. doi:10.1016/S0065-2571(00)00026-1. PMID 11417529. 
  • Stubbs, M; Gibbons G (September năm 2000). “Hans Adolf Krebs (1900-1981)...his life and times”. IUBMB Life 50 (3): 163–6. doi:10.1080/152165400300001462. PMID 11142342. 
  • Raju, T N (May năm 1999). “The Nobel chronicles. 1953: Hans Adolf Krebs (1900-81) and Fritz Albert Lipmann (1899-1986)”. Lancet 353 (9164): 1628. doi:10.1016/S0140-6736(05)75758-5. PMID 10334294. 
  • Sri Kantha, S: The question of nepotism in the award of Nobel prizes; a critique of the view of Hans Krebs. Medical Hypotheses, 1991; 34: 28-32.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]