Himalaya
| Himalaya | |
| Dải núi | |
| Các quốc gia | Bhutan, Trung Quốc, India, Nepal, Pakistan, Myanma, Afghanistan |
|---|---|
| Điểm cao nhất | Đỉnh Everest |
| - cao độ | 8.849 m (29.032 ft) |
| - tọa độ | 27°59′17″B 86°55′31″Đ / 27,98806°B 86,92528°Đ |
Himalaya (Hán-Việt: Hy Mã Lạp Sơn) là một dãy núi ở châu Á, phân chia tiểu lục địa Ấn Độ khỏi cao nguyên Tây Tạng. Mở rộng ra, đó cũng là tên của một hệ thống núi hùng vĩ bao gồm cả Himalaya theo đúng nghĩa của từ này, Karakoram, Hindu Kush và các dãy núi nhỏ khác trải dài từ Pamir Knot. Tên gọi này bắt nguồn từ tiếng Sanskrit himālaya, một tatpurusa từ kép mang ý nghĩa "nơi ở của tuyết" (từ chữ hima "tuyết", và ālaya "nơi ở"; xem thêm Himavat).
Tất cả cùng với nhau, hệ thống núi Himalaya là dãy núi cao nhất hành tinh và là nơi của 14 đỉnh núi cao nhất thế giới: các đỉnh cao trên 8.000 m, bao gồm cả đỉnh Everest. Để thấy được kích thước khổng lồ của những dãy núi trong dãy Himalaya, hãy so với Aconcagua, trong dãy Andes, với độ cao 6.962 m, là đỉnh cao nhất bên ngoài Himalaya, trong khi hệ thống núi Himalaya có trên 100 núi khác nhau vượt quá 7.200 m.
Dãy Himalaya trải khắp 7 quốc gia: Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Myanma và Afghanistan. Nó cũng là nơi khởi nguồn của 3 hệ thống sông lớn trên thế giới, đó là lưu vực các sông như sông Ấn, sông Hằng-Brahmaputra và sông Dương Tử. Khoảng 750 triệu người sống trên lưu vực của các con sông bắt nguồn từ dãy Himalaya, tính luôn cả Bangladesh.
Mục lục |
Các đỉnh nổi tiếng [sửa]
| Các đỉnh nổi tiếng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đỉnh | Các tên gọi khác và ý nghĩa | Cao độ (m) | Cao độ (ft) | First Western ascent | Ghi chú | |
| Everest | Sagarmatha (Nepali), "Head of the World",[1] Chomolangma Feng (Tiếng Tạng), "Goddess mother of the snows"[2] |
8.848 | 29.035,44 | 1953 | Núi cao nhất trên Trái Đất, nằm ở biên giới giữa Nepal và Tây Tạng, Trung Quốc. | |
| K2 | Chogo Gangri, Qogir Feng, Mount Godwin Austen, Dapsang | 8.611 | 28.251 | 1954 | Núi cao thứ 2 trên Trái Đất. Nằm trên biên giới giữa Taxkorgan Tajik Autonomous County của Xinjiang, Trung Quốc và Northern Areas của Pakistan-administered Kashmir. | |
| Kangchenjunga | Kangchen Dzö-nga, "Five Treasures of the Great Snow" | 8.586 | 28.169 | 1955 | Núi cao thứ 3 trên Trái Đất. Nằm trên biên giới giữa Nepal và Sikkim, Ấn Độ. | |
| Lhotse | "South Peak" | 8.516 | 27.940 | 1956 | Núi cao thứ 4 trên Trái Đất, nằm giữa Khu tự trị Tây Tạng, Trung Quốc, và Nepal. | |
| Makalu | "The Great Black" | 8.462 | 27.765 | 1955 | Núi cao thứ 5 trên Trái Đất nằm trên biên giới giữa Khu tự trị Tây Tạng, Trung Quốc và Nepal. | |
| Cho Oyu | Qowowuyag, "Turquoise Goddess" | 8.201 | 26.905 | 1954 | Núi cao thứ 6 trên Trái Đất nằm trên biên giới giữa Khu tự trị Tây Tạng, Trung Quốc và Nepal | |
| Dhaulagiri | "White Mountain" | 8.167 | 26.764 | 1960 | Núi cao thứ 7 trên Trái Đất nằm ở Nepal. | |
| Manaslu | Kutang, "Mountain of the Spirit" | 8.156 | 26.758 | 1956 | Núi cao thứ 8 trên Trái Đất nằm ở Gurkha Himal, Nepal. | |
| Nanga Parbat | Diamir, "Naked Mountain" | 8.126 | 26.660 | 1953 | Núi cao thứ 9 trên Trái Đất nằm ở Northern Areas, Pakistan. | |
| Annapurna | "Goddess of the Harvests" | 8.091 | 26.545 | 1950 | Núi cao thứ 10 trên Trái Đất nằm ở Nepal. | |
| Gasherbrum I | "Beautiful Mountain" | 8.080 | 26.509 | 1958 | Núi cao thứ 11 trên Trái Đất nằm ở Karakoram, Pakistan | |
| Broad Peak | Faichan Kangri | 8.047 | 26.401 | 1957 | Núi cao thứ 12 trên Trái Đất nằm ở Karakoram, Pakistan. | |
| Gasherbrum II | - | 8.035 | 26.362 | 1956 | Núi cao thứ 13 trên Trái Đất nằm ở Karakoram, Pakistan. | |
| Shishapangma | Xixiabangma, "Crest Above The Grassy Plains", Gosainthan | 8.013 | 26.289 | 1964 | Núi cao thứ 14 trên Trái Đất nằm ở Khu tự trị Tây Tạng, Trung Quốc. | |
| Gyachung Kang | unknown | 7.952 | 26.089 | 1964 | Núi cao thứ 15 trên Trái Đất nằm ở biên giới giữa Khu tự trị Tây Tạng, Trung Quốc và Nepal. | |
| Gasherbrum IV | - | 7.925 | 26.001 | 1958 | Núi cao thứ 17 trên Trái Đất nằm ở Karakoram , Pakistan. | |
| Masherbrum | unknown | 7.821 | 25.660 | 1960 | Núi cao thứ 22 trên Trái Đất nằm ở Karakoram, Pakistan. | |
| Nanda Devi | "Bliss-giving Goddess" | 7.817 | 25.645 | 1936 | Núi cao thứ 23 trên Trái Đất nằm ởUttarakhand, India. Là ngọn núi cao nhất nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Ấn Độ. | |
| Rakaposhi | "Shining Wall" | 7.788 | 25.551 | 1958 | Núi nằm ở Pakistani Karakoram. | |
| Gangkhar Puensum | Gankar Punzum, "Three Mountain Siblings" | 7.570 | 24.836 | Unclimbed | Ngọn núi cao nhất chưa có người chinh phục nằm ở vương quốc Bhutan. | |
| Ama Dablam | "Mother And Her Necklace" | 6.848 | 22.467 | 1961 | Là một trong những đỉnh đẹp nhất ở Himalaya, nằm ở Khumbu, Nepal. | |
Sinh thái [sửa]
Hệ động và thực vật của Himalaya biến đổi theo khí hậu, lượng mưa, cao độ, và đất. Khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ở chân núi đến băng và tuyết vĩnh cửu ở những đỉnh cao nhất. Lượng mưa hàng năm tăng từ tây sang đông dọc theo sười phía nam của dải núi. Sự đa dạng về khí hậu, cao độ, lượng mưa, và đất đai tạo điều kiện cho nhiều quần xã động - thực vật phát triển. Ví dụ như ở những cao độ rất cao (áp suất thấp) cùng với khí hậu cực lạnh cho phép các sinh vật chịu được điều kiện sống rất khắc nghiệt sống sót.[3]
Sự phát triển hưng thịnh của hệ động thực vật thống nhất của Himalaya đang trải qua những thay đổi về hợp phần và cấu trúc do biến đổi khí hậu. Sự gia tăng nhiệt động có thể làm cho một số loài chuyển lên sống ở những độ cao cao hơn. Rừng sồi bị thông xâm lấn ở khu vực Garhwal Himalaya. Có một số bào cào về các loại cây ăn quả và thực vật có hoa thời kỳ đầu ở dạng loài thân gỗ, đặc biệt là rhododendron, táo và Myrica esculenta. Đặc tính dược của một số loài quan trọng có thể bị ảnh hưởng do biến đổi khi hậu.[4][5]
Địa chất [sửa]
Himalaya là một trong những dải núi trẻ nhất trên Trái Đất và bao gồm chủ yếu là các đá trầm tích và đá biến chất được nâng lên. Theo học thuyết kiến tạo mảng, sự hình thành của nó là kết quả của sự va chạm lục địa hoặc tạo núi dọc theo ranh giới hội tụ giữa mảng Ấn-Úc và mảng Á-Âu. Dải núi này được xem là núi nếp uốn.
Sự va chạm bắt đầu vào Creta thượng cách đây khoảng 70 triệu năm, khi mảng Ấn-Úc chuyển động về phía bắc với vận tốc khoảng 15 cm/năm và va chạm với mảng Á-Âu.Cách đây khoảng 50 triệu năm, mảng Ấn-Úc này đã đóng kín hoàn toàn đại dương Tethys, sự tồn tại của đại dương này được xác định thông qua các đá trầm tích lắng đọng trên đáy đại dương, và các núi lửa ở rìa của nó. Vì các trầm tích này nhẹ nên nó được nâng lên thành núi thay vì bị chìm xuống đáy đại dương. Mảng Ấn-úc tiếp tục di chuyển theo chiều ngang bên dưới cao nguyên Thanh Tạng làm cho cao nguyên này nâng lên. Cao nguyên Arakan Yoma ở Myanmar và quần đảo Andaman và Nicobar thuộc vịnh Bengal cũng được hình thành do sự va chạm này.
Mảng Ấn-Úc vẫn đang chuyển động với tốc độ 67 mm/năm, và hơn 10 triệu năm nữa nó sẽ đi sâu khoảng 1.500 km vào châu Á. Khoảng 20 mm/năm của sự hội tụ Ấn-Á theo đứt gãy dọc theo sườn phía nam của Himalaya.[cần dẫn nguồn] Điều này làm cho Himalaya nâng cao khoảng 5 mm/năm. Sự chuyển động của mảng Ấn Độ vào mảng châu Á cũng gây ra các hoạt động địa chấn như động đất thường xuyên ở khu vực này.
Xem thêm [sửa]
Tham khảo [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Himalaya. |
- ^ Unsworth, Walt (2000). Everest - The Mountaineering History (ấn bản 3). Bâton Wicks. tr. 584. ISBN 978-1898573401.
- ^ “No Longer Everest but Mount Qomolangma”. People's Daily Online. 20 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2005.
- ^ C.Michael Hogan. 2010. Archaea. eds. E.Monosson & C.Cleveland, Encyclopedia of Earth. National Council for Science and the Environment, Washington DC.
- ^ Kala, Chandra Prakash Kala (2011). Medicinal Plants and Sustainable Development. New York: Nova Science Publishers. tr. 280. ISBN 9781617619427.
- ^ Kala, C.P. (2012). Biodiversity, Communities and Climate Change. New Delhi: Teri Publications. tr. 358.
|
||||||||||||||||||||