Jessica Jung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Jessica (ca sĩ))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jessica Jung
Jessica Jung at 2010 Melon Music Awards.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Jeong Su-yeon (정수연)
Nghệ danh Jessica
Sinh 18 tháng 4, 1989 (25 tuổi)
San Francisco, California
Nguyên quán Jeonju,Flag of South Korea.svg Hàn Quốc
Nghề nghiệp Ca sĩ, Diễn viên
Thể loại K-pop
Năm 2007- nay
Tên thật
Hangul 정수연
Hanja (Hán tự)
Hán-Việt Trịnh Tú Nghiên
Romaja quốc ngữ Jeong Su-yeon
McCune-Reischauer Chŏng Suyŏn
Nghệ danh
Hangul 제시카 정
Hanja (Hán tự) 西
Hán-Việt Khiết Tây Tạp Trịnh
Romaja quốc ngữ Jesika Jeong
McCune-Reischauer Chesik'a Chŏng

Jessica Jung (sinh ngày 18 tháng 4 năm 1989) tên thật là Jeong Su-yeon hay Jung Soo Yeon, thường được biết đến với nghệ danh Jessica, là nữ ca sĩ, diễn viên, nhà thiết kế thời trang người gốc Hàn Quốc và là cựu thành viên của nhóm nhạc Hàn Quốc SNSD.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Jessica Jung sinh ra tại San Francisco, California. Gia đình cô di cư sang Mỹ từ những năm 80 và trở về Hàn Quốc năm Jessica 11 tuổi. Năm 2000, Jessica và em gái Krystal được SM phát hiện khi đi bộ cùng gia đình ở xung quanh quận Bundang, Seongnam, Gyeonggi-do và được mời tham gia thử giọng. Jessica đã tham gia cuộc thi 2000 SM Casting System và trở thành thực tập sinh tại SM vào cùng năm. Jessica được đào tạo bài bản về ca hát, vũ đạo và diễn xuất tại SM Town trong vòng 7 năm 6 tháng. Jessica tốt nghiệp trường Quốc tế Korea Kent cùng với thành viên Tiffany vào tháng 4 năm 2007 [1].

Em gái của Jessica, Krystal Jung hiện là giọng ca chính của nhóm nhạc nữ f(x).

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Girls' Generation (2007-2014)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Girls' Generation

Jessica là thành viên đầu tiên ký hợp đồng với SM Entertainment vào năm 2000. Vào năm 2007, cô được lựa chọn để trở thành thành viên của nhóm nhạc Girls' Generation. Nhóm nhạc gồm 9 thành viên, ra mắt vào ngày 5 tháng 8 năm 2007.

Tháng 9 năm 2014, Jessica thông báo trên trang cá nhân Weibo về việc cô bị loại khỏi nhóm nhạc. SM sau đó xác nhận và đưa ra thông tin là trước đó, Jessica đã thông báo với họ về việc sẽ rời nhóm nhạc sau khi ra mắt thêm một album nữa để tập trung vào công việc cá nhân. Mặc dù vậy, sau những nỗ lực để giải quyết vấn đề, công ty buộc phải thay đổi kế hoạch sớm hơn dự tính và đưa ra quyết định Girls' Generation sẽ tiếp tục hoạt động với 8 thành viên trong khi Jessica tách ra hoạt động với tư cách cá nhân.[2][3] Ca khúc cuối cùng được phát hành của Jessica cùng Girls' Generation là Divine, nằm trong phiên bản tái bản của album tiếng Nhật The Best.

Hoạt động cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các hoạt động chung với SNSD, Jessica đã phát hành hai đĩa đơn với hai thành viên cùng nhóm là SeohyunTiffany: Oppa Nappa [4]Mabinogi[5] Jessica hợp tác với 8Eight trong ca khúc "I Love You" nằm trong album thứ 2 của họ, Infinity, được phát hành vào ngày 3 tháng 3 năm 2008.

Trong mini-album thứ hai của SNSD, "Tell Me Your Wish (Genie)", Jessica đã song ca với Onew của Shinee ca khúc "One Year Later". Ngoài ra, cô cũng hát cùng Park Myeong-su ca khúc "Naengmyeon" trong khuôn khổ chương trình Infinity Challenge của đài MBC.[6]

Jessica góp giọng trong ca khúc "Seoul Song" với Leeteuk, Kyuhyun, Siwon, Sungmin, Donghae, Ryeowook của Super Junior và các thành viên khác của SNSDSooyoung, Seohyun, Taeyeon, và Sunny.

Ngoài ra, Jessica còn tham gia vào phim ca nhạc của Kim Han-JoSuper Junior-M. Cô đảm nhận vai chính cùng Han Geng trong MV ca khúc "Super Girl" của Super Junior-M (một nhóm nhỏ chuyên hát Tiếng Quan Thoại của Super Junior) phát hành vào ngày 14 tháng 9 năm 2009.[7]

Jessica phát hành digital single có tên là "Sweet Delight" vào ngày 13 tháng 10 năm 2010.

Vào năm 2011, Jessica tham gia hát nhạc phim của bộ phim Romance Town với bài hát "Because Tears Are Overflowing" (tiếng Triều Tiên: 눈물이 넘쳐서 ).

Năm 2012, Jessica hát "What To Do" (cùng Kim Jin-pyo) cho bộ phim Wild Romance, "Butterfly" (cùng Krystal) cho bộ phim To The Beautiful You,[8] "Heart Road" cho The King's Dream,[9] cũng như "My Lifestyle", nhạc hiệu quảng cáo của Hyundai.[10]

Năm 2013, cô hát "The One Like You" cho Dating Agency: Cyrano.[11]

Năm 2014, Jessica phát hành "Say Yes"' cho phim Make Your Move có sự tham gia của em gái cô, Krystal, và thành viên cũ của EXO, Kris.

Jessica bắt đầu sự nghiệp sân khấu với vai chính trong vở nhạc kịch Legally Blonde, bên cạnh Honey Lee và Kim Ji-woo;[12] Công diễn vào ngày 14 tháng 11 năm 2009.[13]

Truyền hình/Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 2008, Jessica các thành viên của SNSD cùng nhóm nhạc DBSK tham gia vào phim quảng cáo cho nhãn hiệu Haptic Motion.

Jessica xuất hiện trong phim truyền hình Oh My Lady! vào tháng 3 năm 2010.[14]

Vào tháng 5 năm 2010, Jessica tham gia vào chương trình truyền hình "Happy Birthday". Cô rời khỏi chương trình này vào ngày 7 tháng 6 năm 2010 vì những hoạt động ở nước ngoài của SNSD.[15]

Đầu năm 2012, cô tham gia vào bộ phim "Wild Romance" với vai Kang Jong Hee - bạn gái cũ của Park Mu Yeol (Lee Dong Wook thủ vai). Phim bắt đầu phát sóng từ ngày 04/01/2012.

2014: OnStyle's Jessica & Krystal[sửa | sửa mã nguồn]

Đầy tháng 4, Jessica và em gái Krystal thông báo về chương trình thực tế của riêng họ. Jessica & Krystal ra mắt vào ngày 3 tháng 6 và bao gồm 10 tập. Chương trình miêu tả các hoạt động hàng ngày của hai chị em.[16]

Trong một phân cảnh phỏng vấn, hai chị em cùng đề cập đến hình tượng lạnh lùng của họ. Jessica giải thích "Mọi người thường nghĩ về hình ảnh tươi sáng của các idol, nhưng em gái tôi và tôi có xu hướng không bộc lộ những biểu cảm mạnh mẽ. Nếu tôi không năng động, người khác có thể thấy buồn chán hoặc hiểu lầm. Tôi mong rằng họ không nghĩ rằng tôi thô lỗ."[17]

Kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Blanc & Eclare[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 2014, Jessica ra mắt thương hiệu thời trang riêng Blanc, được mô tả là một nhãn hiệu với những sản phẩm kết hợp hiện đại và cổ điển cùng những chi tiết thú vị được lấy cảm hứng từ gu thời trang của riêng Jessica. Cô chia sẻ, "Ước mơ của tôi về việc ra mắt Blanc cuối cùng đã thành hiện thực. Tôi rất phấn khích khi phát triển một nhãn hiệu thời trang và giới thiệu nó ra thế giới. Qua công việc sáng tạo với các nhà thiết kế và người mẫu thời trang, tôi học đươc rất nhiều và tôi rất mong muốn được tiếp tục chia sẻ những thông tin mới về các đối tác mà tôi có được."[18] Nhãn hiệu sau đó được đổi tên thành Blanc & Eclare.

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa hát cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên đĩa đơn Bài hát Độ dài Nghệ sĩ
2007 SBS Thirty Thousand Miles in Search of My Son "Touch the Sky" 03:49 Cùng Taeyeon, Seohyun, SunnyTiffany
2008 Roommate "Love Hate" 03:45 Cùng SeohyunTiffany
It's Fantastic "It's Fantastic" 03:40 Cùng SeohyunTiffany
Infinity "I Love You" 03:40 Cùng 8eight
N/A "Holding Hands" 03:54 Cùng Tiffany, Super Junior, SS501, Jewelry, Brown Eyed Girls, Lee Hyun và T.G.U.S
KBS Hong Gildong OST "The Little Boat (작은 배)" 03:27 Cùng Taeyeon, Seohyun, Sunny và Tiffany
N/A "Haptic Motion" 01:31 Cùng Taeyeon, Seohyun và Sunny
2009 Olympic Duet Song Festival "NaengMyun" 03:41 Cùng Park Myung-soo
Tell Me Your Wish (Genie) "One Year Later" 04:00 Cùng Onew
MBC Heading to the Ground OST "Motion" 04:06 Cùng Taeyeon, Seohyun, Sunny và Tiffany
N/A "S.E.O.U.L." 03:47 Cùng Taeyeon, Seohyun, Sunny và Kyuhyun, Sungmin, Ryeowook, DonghaeLeeteuk của Super Junior
N/A "I Can't Bear Anymore (Bear Song)" 02:43 Cùng Taeyeon, Seohyun and Sunny
2010 Sweet Delight "Sweet Delight" 03:20 Solo
N/A "Cabi Song" 03:19 Cùng Taeyeon, Tiffany, Seohyun, Sunny, Yuri, Chansung, Junsu, và Taecyeon
N/A "Cooky" 02:50 Cùng Tiffany, Seohyun và Sunny
My Friend Haechi "Haechi Song" (해치송)[19] 03:26 Cùng Taeyeon, Sunny, Tiffany và Seohyun
2011 Romance Town "Because Tears Are Overflowing" 04:46 Solo
2012 KBS Wild Romance "What To Do" 03:54 Cùng Kim Jin-pyo
SBS To the Beautiful You "Butterfly" 03:01 Cùng Krystal
KBS The King's Dream "Heart Road" 04:19 Solo
PYL Younique Volume 1 "My Unique Lifestyle" 03:06 Cùng Dok2
2013 Dating Agency: Cyrano "The One Like You" 04:15 Solo
2014 Make Your Move 3D "Say Yes" 03:58 Cùng KrystalKris
"Cheap Creeper" 03:01 Cùng Taeyeon, Tiffany, Sunny & Seohyun

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vị trí cao nhất Album
KOR USA
Gaon[20] Billboard K-pop Hot 100
2010 "Sweet Delight" 48  — Digital Single
2011 "Because Tears Are Overflowing" 20  — KBS Romance Town OST
2012 "What To Do" (with Kim Jin-pyo) 12 14 KBS Wild Romance OST
"Butterfly" (with Krystal) 22 17 SBS To The Beautiful You OST
"Heart Road" 57 43 KBS The King's Dream OST
"My Lifestyle" (with Dok2) 34 30 PYL Younique Volume 1
2013 "The One Like You" 37 21 tvN Dating Agency: Cyrano OST

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Chú thích
2012 I AM. – SM Town Live World Tour in Madison Square Garden Chính mình Phim tiểu sử của SM Town[21]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Ghi chú Đài phát sóng
2008 Unstoppable Marriage Một trong 7 công chúa của Bulgwang-dong Khách mời KBS2
2009 Tae-hee, Hye-kyo, Ji-hyun! Giáo viên tiếng anh Khách mời MBC
2010 Oh! My Lady Chính mình Khách mời SBS
2012 Wild Romance Kang Jong-hee Vai phụ KBS2

Truyền hình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên chương trình Tập Ghi chú
2010 Happy Birthday All
2014 Jessica & Krystal 1-10 cùng Krystal, mô tả hoạt động hàng ngày của hai chị em

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Ghi chú
2009–2010; 2012–2013 Legally Blonde Elle Woods Vai chính

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Đề cử Kết quả
2012 3rd Annual Barbie & Ken Awards Korean Barbie N/A Đoạt giải[22]
SBS MTV Best of the Best Vai khách mời xuất sắc nhât N/A Đề cử[23]
2013 7th The Musical Award Popularity Award N/A Đoạt giải
2014 7th Style Icon Awards Top 10 Style Icons (with Krystal Jung) N/A Chưa quyết định

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (tiếng Triều Tiên) Chosun.com: 제시카, "관객 앞에서의 제 목소리에 감동했어요", 18 tháng 2, 2009
  2. ^ SMTown's Official Statement SM Entertainment (September 30, 2014). Retrieved on October 1, 2014.
  3. ^ SM States that SNSD will Promote as Eight Without Jessica Mwave.interest.me (September 30, 2014). Retrieved on September 30, 2014.
  4. ^ (tiếng Triều Tiên) Kim Hyeong-wu. 소녀시대 티파니 "‘오빠나빠’ 활동 당시 성대결절 고생" (Girls' Generation's Tiffany: "'Bad Older Brother' Activities Were Difficult on Vocal Nodules"). JoongAng Ilbo/Newsen. 16 tháng 2, 2009. Truy cập 26 tháng 2, 2010.
  5. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대 티파니 제시카 서현 게임 주제가 신곡 발표 (Girls' Generation's Tiffany/Jessica/Seohyun Announce Game Theme Song as New Single). IS Plus/Newsen. 1 tháng 8, 2008. Truy cập 4 tháng 5, 2010.
  6. ^ (tiếng Triều Tiên)Park Myung Soo and SNSD Jessica’s Naeng Myun is back!. allkpop.com. 22 tháng 12, 2009. Truy cập 23 tháng 12, 2009
  7. ^ (tiếng Triều Tiên) Super Junior-M Releases "Super Girl" MV,14 tháng 9, 2009, Truy cập 15 tháng 9, 2009
  8. ^ “Jessica and Krystal releases 'Butterfly', an OST of 'To the Beautiful You'”. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  9. ^ “SNSD Jessica releases 'Heart Road', an OST of 'The Great King's Dream'”. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  10. ^ “Jessica sings "My Lifestyle" (ft. Dok2) for Hyundai’s ‘PYL Younique Album’”. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  11. ^ “Girls' Generation's Jessica lends her voice for OST of Sooyoung's starring drama 'Dating Agency: Cyrano'”. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  12. ^ (tiếng Triều Tiên) Chung Ah-young. 'Legally Blonde' Sparkles With Starry Cast. The Korea Times. 16 tháng 9, 2009. Truy cập 22 tháng 2, 2010.
  13. ^ (tiếng Anh) 3 Starts to Share Lead in 'Legally Blonde' Musical. The Chosun Ilbo. 31 tháng 10, 2009. Truy cập 22 tháng 2, 2010.
  14. ^ (tiếng Triều Tiên) 소녀시대, 최시원과 의리 지키며 '오 마이 레이디'서 카메오 출연 (SNSD Makes Cameo Appearance On "Oh! My Lady", Showing Loyalty To Choi Siwon). asiae/Newsen. 7 tháng 3, 2010. Truy cập 9 tháng 4, 2010
  15. ^ (tiếng Triều Tiên) Bae Sunyoung: 제시카 ‘해피버스데이‘ 5주 출연 끝 7일 하차 (Jessica, After Five Weeks of Appearances in 'Happy Birthday', Will be Withdrawing on 7th), Newsen.com. 5 tháng 6, 2010. Truy cập 6 tháng 6, 2010.
  16. ^ Jessica and Krystal's reality show Jessica&Krystal. Allkpop.com (April 16, 2014). Retrieved on April 16, 2014.
  17. ^ Jessica and Krystal shed tears and talk about their complex on their reality program Allkpop.com (June 3, 2014). Retrieved on June 3, 2014.
  18. ^ Girls' Generation's Jessica announces the launch of her own fashion line 'BLANC' Allkpop.com (August 6, 2014). Retrieved on August 7, 2014.
  19. ^ “내친구 해치 (My Friend Haechi) [Original Soundtrack] – Single”. iTunes US Apple. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013. 
  20. ^ “Gaon Chart Search” (bằng Korean). Gaon Chart. 
  21. ^ “Documentary Shows Top K-Pop Singers Behind the Scenes”. Chosun Ilbo. 2 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 
  22. ^ “SNSD's Jessica and TVXQ's Yunho as Korea's Barbie and Ken 2012”. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  23. ^ Girls’ Generation Nominated for ’2012 World Music Awards’ and ’2012 SBS MTV Best of the Best’

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]