Positron

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Positron (phản electron)
Positron Emission Tomograph Coincidence-de.svg
Representation of the conicidence detection mechanism of a Positron Emission Tomograph
Cấu trúc Hạt sơ cấp
Loại hạt Fermion
Nhóm Lepton
Lớp Đầu tiên
Tương tác cơ bản Hấp dẫn, Điện từ, Yếu
Phản hạt Electron
Lý thuyết Paul Dirac, 1928
Thực nghiệm Carl D. Anderson, 1932
Ký hiệu β+, e+
Khối lượng

9.1093826(16) × 10−31 kg[1]
11836.15267261(85) u[2]

0.510998918(44) MeV/c2[3]
Điện tích 1.602176462(63) × 10−19 C[4]
Spin ½
Phản vật chất
Overview
Annihilation
Devices
Phản hạt
Ứng dụng
Bodies
People
edit

Positron là phản hạt của electron với khối lượngspin bằng khối lượng và spin của electron, nhưng có điện tích trái dấu với electron. Positron là phản hạt đầu tiên được phát hiện trong thế giới các hạt vi mô.

Trong chân không, positron tồn tại rất lâu với thời gian sống cỡ 4,3×1023 năm, tuy nhiên trong môi trường, nó lại có thời gian sống khá ngắn do bị hủy cặp gần như tức thời với electron của môi trường.

Lịch sử phát hiện và nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Dấu vết của phản electron trong thí nghiệm năm 1933

Paul Dirac là người đầu tiên đoán nhận về sự tồn tại của positron trên lý thuyết và rút ra được các tính chất của nó trong bài báo năm 1928 từ việc lý giải nghiệm âm của phương trình năng lượng. Vào năm 1932, Carl David Anderson đã phát hiện ra positron trong các tia vũ trụ với các tính chất hoàn toàn phù hợp với các tiên đoán của Dirac. Như vậy, positron là phản hạt đầu tiên được phát hiện trong thế giới các hạt vi mô.

Thuộc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể coi positron có 3 tương tác chính:

  • Tán xạ với hạt mang điện nói chung
  • Tạo muon μ
  • Hủy cặp với electrron để tạo ra cặp lượng tử gamma bay ngược chiều nhau

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]