Tên chữ
Tên chữ ((表)字 - (biểu) tự) là tên gọi của một người vào thời gian trưởng thành của cuộc đời. Sau năm 20 tuổi, tên chữ sẽ được đặt thay cho tên gọi như một biểu tượng của sự trưởng thành và kính trọng. Tên chữ chỉ thường dùng cho nam giới, và thường do cha mẹ đặt tên, cũng có thể là thầy giáo đầu tiên trong buổi học đầu tiên đặt cho, hay thậm chí do chính bản thân tự đặt cho mình. Truyền thống sử dụng tên chữ đã biến mất dần kể từ Phong trào Ngũ Tứ năm 1919.
Mục lục |
[sửa] Ý nghĩa
Theo quyển Lễ ký, sau khi một người đàn ông đến tuổi trưởng thành, sẽ rất thiếu kính trọng khi những người cùng lứa gọi ông ta bằng tên thực (名 - danh). Vì thế, tên thực chỉ dùng khi một người tự nói về bản thân mình hoặc để một người lớn hơn gọi, còn tên chữ sẽ được những người ngang lứa gọi nhau một cách long trọng hoặc dùng trong văn bản, nên mới được gọi là tên chữ.
Tên chữ thường có hai âm và thường dựa trên ý nghĩa của tên thực. Nhan Chi Suy (顏之推) đời Bắc Tề tin rằng trong khi tên thực dùng để phân biệt người này với người kia, thì tên chữ sẽ biểu thị tính luân lý của một người.
Thông thường, tên chữ và tên thực có mối liên hệ với nhau, ví dụ như Mao Trạch Đông (phồn thể: 毛澤東, giản thể: 毛泽东) có tên chữ là Nhuận Chi (phồn thể: 潤之, giản thể: 润之). Cả hai chữ này đều có cùng bộ thủy - 氵, nghĩa là nước. Cả hai chữ đều có nghĩa là "lợi ích" hay "ân huệ".
Một cách khác để đặt tên chữ là dùng chữ tử (Trung: 子; bính âm: zǐ) - một danh xưng cao quý của một người đàn ông - làm chữ đầu tiên của tên chữ. Ví dụ như tên chữ của Công Tôn Kiều là Tử Sản (phồn thể: 子產, giản thể: 子产), hay của Đỗ Phủ là Tử Mỹ (子美).
Người ta cũng thường tạo ra tên chữ bằng cách chữ đầu tiên của tên chữ thể hiện thứ tự anh em trong gia đình. Ví dụ Khổng Tử, tên thật là Khổng Khâu (孔丘), được đặt tên chữ là Trọng Ni (仲尼), trong đó chữ trọng cho thấy ông là con thứ hai trong gia đình. Các chữ thường được dùng là Bá (伯) cho con cả, Trọng (仲) cho con thứ hai, Thức (叔) cho con thứ ba, và Quý (季) cho con út, nếu gia đình có nhiều hơn 3 con.
Thói quen dùng tên chữ bắt đầu từ đời Nhà Thương và dần phát triển thành một hệ thống, và được phổ biến rộng rãi nhất vào thời kế tiếp là Nhà Chu. Trong thời kỳ này, phụ nữ cũng được đặt tên chữ. Tên chữ của phụ nữ thường gồm một chữ thể hiện thứ tự của các chị em trong gia đình cùng với họ của bà ta. Ví dụ, Mạnh Khương (孟姜) là chị cả trong gia đình họ Khương.
Trước thế kỷ thứ 20, những người Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản cũng thường được gọi bằng tên chữ.
Tên chữ của một số nhân vật Trung Quốc nổi tiếng:
| Họ | Tên | Tên chữ | |
|---|---|---|---|
| Lão Tử 老子 | Lý (李) | Nhĩ (耳) | Bá Dương (伯陽) |
| Khổng Tử 孔子 | Khổng (孔) | Khâu (丘) | Trọng Ni (仲尼) |
| Tào Tháo 曹操 | Tào (曹) | Tháo (操) | Mạnh Đức (孟德) |
| Lưu Bị 劉備 | Lưu (劉) | Bị (備) | Huyền Đức (玄德) |
| Tư Mã Ý 司馬懿 | Tư Mã (司馬) | Ý (懿) | Trọng Đạt (仲達) |
| Gia Cát Lượng 諸葛亮 | Gia Cát (諸葛) | Lượng (亮) | Khổng Minh (孔明) |
| Lý Bạch 李白 | Lý (李) | Bạch (白) | Thái Bạch (太白) |
| Tôn Dật Tiên 孫逸仙 | Tôn (孫) | Đức Minh (德明) | Đại Chi (載之) |
| Mao Trạch Đông 毛澤東 | Mao (毛) | Trạch Đông (澤東) | Nhuận Chi (潤之) |
| Nhạc Phi 岳飛 | Nhạc (岳) | Phi (飛) | Bằng Cử (鵬舉) |
| Bạch Sùng Hy 白崇禧 | Bạch (白) | Sùng Hy (崇禧) | Kiện Sinh (健生) |
[sửa] Tham khảo
[sửa] Liên kết ngoài
- “Names and Style Names”. Truy cập 11 tháng 9 năm 2010.