Triều Tiên Thái Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triều Tiên Thái Tổ
Vua Triều Tiên
Vua nhà Triều Tiên
Tại vị 17 tháng 7 năm 1392 - 5 tháng 9 năm 1398 (âm lịch)
Đăng quang 17 tháng 7 năm 1392 (âm lịch)
Tiền nhiệm Sáng lập nhà Triều Tiên
Kế nhiệm Triều Tiên Định Tông
Thông tin chung
Phối ngẫu
Hậu duệ
Niên hiệu Hồng Vũ (niên hiệu nhà Minh)
Miếu hiệu Thái Tổ
Vương tộc Dòng họ Lý
Thân phụ Lý Tử Xuân
Sinh 11 tháng 10, 1335(1335-10-11)
Hàm Hưng
Mất 24 tháng 5, 1408 (72 tuổi)
Dương Đức Cung
Tên Triều Tiên
Hangul 태조
Hanja (Hán tự) 太祖
Romaja quốc ngữ Taejo
McCune-Reischauer T'aecho
Tên hiệu
Hangul 송헌
Hanja 松軒
Romaja quốc ngữ Songheon
McCune-Reischauer Songhŏn

Triều Tiên Thái Tổ (11 tháng 10 năm 133524 tháng 5 năm 1408 (âm lịch); trị vì 1392-1398), tên khai sinh là Lý Thành Quế (李成桂, 이성계, I Sŏnggye), và đã đổi tên thành Lý Đán (李旦, 이단, I Tan), là người sáng lập ra nhà Triều Tiên (1392-1910) hay còn được gọi là Vương triều Lý (lấy theo tên dòng họ Lý của ông). Lý Thành Quế cũng là nhân vật chủ chốt trong việc lật đổ triều Cao Ly. Ông được truy tôn làm Hoàng đế sau khi hoàng đế Cao Tông tuyên bố thành lập đế quốc Đại Hàn năm 1897.

Cha của Thái Tổ, Lý Tử Xuân (李子春, I Cha-ch'un, 이자춘), là một quan chức nhỏ của Mông Cổ nhưng ông là người dân tộc Triều Tiên. Lý Thành Quế đã gia nhập quân đội Cao Ly và đã lên chức, cuối cùng đã chiếm ngai vàng năm 1392. Ông đã thoái vị năm 1398 trong một cuộc tranh giành vương vị giữa các con trai của ông và qua đời năm 1408.

Hoàn cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối thế kỷ 14, vương triều Cao Ly - do Vương Kiến lập nên từ năm 918 - sau 4 thế kỷ tồn tại từ chỗ cường thịnh đã trở nên suy nhược và đang đứng trên bờ vực thẳm. Thật sự, nền móng của vương triều đã sụp đổ tan tành ngay sau khi bị Đế quốc Mông Cổ xâm lược và biến thành một nước phiên thuộc. Tính hợp pháp của Nhà nước Cao Ly cũng càng lúc càng trở nên đáng nghi ngờ vì hoàng gia Cao Ly không những không còn khả năng cai trị đất nước một cách hiệu quả mà còn bị buộc phải kết hôn với những thành viên thuộc hoàng tộc triều Nguyên, hành động được coi là một vết nhơ nhuốc của vương triều Cao Ly; thêm nữa nhửng cuộc đấu đá tranh giành quyền lực ngay trong nội bộ hoàng gia càng làm tình hình thêm tồi tệ (ngay bản thân mẫu hậu của U Vương - vua nhà Cao Ly đương tại vị cũng chỉ là một phụ nữ thuộc tầng lớp bình dân, chính việc này khiến người đời có những dị nghị rằng liệu ông có đúng thuộc dòng dõi của Cung Mẫn Vương hay không ?).

Tình hình nội bộ vương triều Cao Ly cũng vô cùng rối ren. Các cuộc đấu đá, tranh giành quyền lực quyết liệt giữa các các quý tộc, các tướng lĩnh và quan lại khiến triều đình lâm vào cảnh chia bè kết phái rất trầm trọng. Với việc các hải tặc Oa Khấu (倭寇 wakō?) thường xuyên cướp phá vùng duyên hải bán đảo Triều Tiên cũng như các cuộc xâm lấn Cao Ly của nghĩa quân Hồng Cân theo đà đánh đuổi nhà Nguyên, kẻ nắm quyền thực sự trong triều đình Cao Ly chính là phái cải cách Sinjin và phái đối lập Gweonmun, cũng như những tướng lĩnh trực tiếp chiến đấu chống lại các thế lực ngoại xâm - ví dụ như vị tướng tài ba Lý Thành Quế và địch thủ chính trị của ông, Tể tướng Thôi Huỳnh. Sự trỗi dậy của triều Minh - do Chu Nguyên Chương sáng lập - đã khiến cho thế lực của nhà Nguyên - Mông Cổ suy yếu trầm trọng, không chỉ họ bị đánh đuổi khỏi Trung Nguyên mà thậm chí Cao Ly đã giành lại được độc lập từ tay đế quốc Mông Cổ ngay trong thập niên 1350 (mặc dù các thế lực Mông Cổ ở miền Bắc Cao Ly vẫn còn rất mạnh với những đội quân đông đảo trong tay).

Con đường binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thành Quế đã giành được lòng tin cũng như quyền lực vào trong tay vào những năm cuối thập kỷ 1370 và đầu thập kỷ 1380 nhở vào những chiến công trong việc đánh đuổi các thế lực Mông Cổ còn lại ra khỏi bán đảo Triều Tiên, cũng như đánh tan các cuộc tấn công của quân cướp biển Oa Khấu (倭寇 wakō?) người Nhật. Ông cũng lập nhiều công lao trong việc truy đuổi các lực lượng nghĩa quân Hồng Cân khi họ tiến vào bán đảo Triều Tiên theo đà đánh đuổi quân Mông Cổ. Sau khi Chu Nguyên Chương lập ra triều Minh và đánh đuổi quân Nguyên ra khỏi Trung Nguyên vào năm 1368, triều đình Cao Ly chia làm hai phe: phe thân triều Nguyên do tể tướng Thôi Huỳnh đứng đầu, còn phe thân triều Minh do Lý Thành Quế đứng đầu.

Khi một sứ thần nhà Minh đến Cao Ly vào năm 1388 đòi một phần lãnh thổ lớn nằm ở phía Bắc Cao Ly, tể tướng Thôi Huỳnh chớp lấy cơ hội này, lợi dụng làn sóng chống nhà Minh trong triều đình Cao Ly để phát động một cuộc tấn công xâm lược vào bán đảo Liêu Đông nhằm lấy lại những lãnh thổ mà quốc gia Cao Câu Ly mất vào tay Trung Quốc (Cao Ly luôn thừa nhận họ là người kế thừa trực tiếp của quốc gia Cao Câu Ly xưa, vì vậy việc đòi lại lãnh thổ cũ của Cao Câu Ly tại bờ bên kia sông Áp Lục luôn là một nguyên tắc chính trong chính sách đối ngoại của Cao Ly).

Viên tướng luôn chống đối Lý Thành Quế được chọn là người chỉ huy cuộc tấn công. Tuy nhiên tại hòn đảo Wihwa trên sông Áp Lục, Lý Thành Quế đã ra một quyết định mang tính bước ngoặt, làm thay đổi hẳn lịch sử Triều Tiên. Lợi dụng sự tín nhiệm mà ông có được từ dân chúng, từ những quan lại cao cấp trong triều đình cũng như áp lực lớn của nhà Minh dưới triều vua Thái Tổ, ông quyết định nổi loạn chống lại Thôi Huỳnh và nhanh chóng tiến quân về kinh đô Khai Thành.

Quan điểm của người đời về Lý Thành Quế[sửa | sửa mã nguồn]

Những thành quả mà Thái Tổ Lý Thành Quế gây dựng được trong thời gian trị vì đã tạo nên nền móng vững chắc cho sự độc lập của vương quốc Triều Tiên trong suốt sáu thế kỷ. Mặc dù có một sự thực không thể chối cãi là Lý Thành Quế đã lật đổ nhà Cao Ly cũng như thanh trừng khốc liệt những quan lại trung thành với vương triều cũ, nhiều ý kiến vẫn đánh giá cao ông như là một nhà cách mạng và là một vị Quốc vương quyết đoán, là người đã loại bỏ một vương triều lụn bại, mục nát và già cỗi để bảo vệ quốc gia trước những hiểm họa ngoại xâm.[cần dẫn nguồn] Những thành công trong lãnh vực đối ngoại của Lý Thành Quế đã bảo vệ được vận mệnh của quốc gia Triều Tiên và được người đời đánh giá cao. Việc giữ vững an ninh và ổn định trong nước là cái nền để quốc gia Triều Tiên phục hồi và phát triển nền văn hóa của họ trong những thế kỷ tới. Nằm giữa sự ảnh hưởng của hai thế lực lớn là triều Nguyêntriều Minh, nhà Triều Tiên đã khuyến khích sự phát triển một nền văn hóa riêng biệt, đặc trưng của dân tộc mình, vốn dĩ từng bị đe dọa hủy hoại trong thời kỳ thống trị của nhà Nguyên - Mông Cổ.

Tuy nhiên nhiều học giả cho rằng ông chỉ đáng là một tên phản bội, là kẻ lật đổ nhà Cao Ly cũ; còn Tể tướng Thôi Huỳnh thì được xem như là một tướng lãnh ưu tú, là một người quyết tâm bảo vệ nhà Cao Ly cũ cho đến cùng.[cần dẫn nguồn]

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1394, vua Thái Tổ chọn Hán Thành (Seoul) làm kinh đô.[1]

Ông qua đời ngày 24 tháng 5, 1408Dương Đức cung. Ông được an táng trong ngôi mộ Hongneung (건원릉, 健元陵) ở thành phố Guri.[2]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Song thân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Lý Tử Xuân (이자춘). Ông được Thái Tổ truy phong miếu hiệu là Hoàn Tổ (桓祖, 환조, Hwancho)
  • Mẹ: Ý Huệ Vương hậu họ Thôi (懿惠王后 崔氏, 의혜왕후 최씨, Ŭihye Wanghu Ch'oessi) ở Duyên Bình (延坪, 연평, Yŏnp'yŏng)[3]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thần Ý Vương hậu họ Hàn (神懿王后韓氏, 신의왕후 한씨, Sinui Wanghu Hanssi, 1337-1391, 54 tuổi) ở An Biên (安邊, 안변, Anpyŏn). Là con gái của An Xuyên phủ viện quân Hàn Khanh (安川府院君韓卿) và Tam Hàn quốc đại phu nhân họ Thân (三韓國大夫人申氏)。
  2. Thần Đức Vương hậu họ Khang (神德王后康氏, 신덕왕후 강씨, Sindeok Wanghu Kangssi, 1356-1396, 40 tuổi) ở Cốc Sơn (谷山, 곡산, Koksan)[4]. Là con gái của Tượng Sơn phủ viện quân Khương Doãn Thành (象山府院君康允成) và Tấn Sơn phủ phu nhân họ Khương (晉山府夫人姜氏)
  3. Một người thiếp vô danh (Hukung, 후궁, 後宮, Hậu cung)
  4. Thành phi họ Nguyên ở Nguyện Châu (성비 원씨, Sŏngpi Wŏnssi ?-29 tháng 12 năm 1449)[5]
  5. Hòa Nghĩa Ông chúa họ Kim (화의옹주 김씨, 1321-1406)
  6. Trinh Khánh Cung chúa họ Liễu ở Cao Phong (정경궁주 유씨, ?-1428)

Con[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trấn An Đại quân (鎭安大君, 진안대군) Lý Phương Vũ (1354-1393, 39 tuổi), con trai trưởng của Thần Ý Vương hậu. Lấy Tam Hàn quốc đại phu nhân họ Trì ở Trung Châu
  2. Vĩnh An Đại quân(영안대군) Lý Phương Quả (1357-1419, 62 tuổi), con trai thứ 2 của Thần Ý Vương hậu.
  3. Ích An Đại quân (益安大君, 익안대군) Lý Phương Nghị (1360-1404, 44 tuổi), con trai thứ 3 của Thần Ý Vương hậu. Lấy Tam Hàn quốc đại phu nhân họ Thô ở Thiết Nguyên
  4. Hoài An Đại quân (懷安大君, 회안대군) Lý Phương Cán (1364-1421, 57 tuổi), con trai thứ 4 của Thần Ý Vương hậu. Lấy phu nhân họ Mẫn ở Ly Hưng, phu nhân họ Hoàng ở Mật Dương và phu nhân họ Cầm ở Kim Phổ
  5. Tĩnh An Đại quân (정안대군) (1367-1422, 55 tuổi) Lý Phương Viễn, con trai thứ 5 của Thần Ý Vương hậu.
  6. Đức An Đại quân (德安大君, 덕안대군) Lý Phương Diễn (chết yểu), con trai thứ 6 của Thần Ý Vương hậu.
  7. Phủ An Đại quân (撫安大君, 무안대군) Lý Phương Phần (1381-1398, 17 tuổi), con trai trưởng của Thần Đức Vương hậu. Lấy Khai Thành phủ phu nhân họ Vương
  8. Nghi An Đại quân (宜安大君, 의안대군) Lý Phương Thạc (1382-1398, 16 tuổi), con trai thứ của Thần Đức Vương hậu. Lấy phủ phu nhân họ Thẩm ở Phú Hữu

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Khánh Thận Công chúa (慶愼公主, 경신공주, ?-1426), trưởng nữ của Thần Ý Vương hậu. Hạ giá lấy Thượng Đảng phủ viện quân họ Lý
  2. Khánh Thiện Công chúa (慶善公主, 경선공주), thứ nữ của Thần Ý Vương hậu với. Hạ giá lấy Thanh Nguyện quân Thẩm Tông
  3. Khánh Thuận Công chúa (慶順公主, 경순공주, ?-1407), con gái duy nhất của Thần Đức Vương hậu. Hạ giá lấy Hưng An quân Lý Tế
  4. Nghi Ninh Ông chúa (宜寧翁主, 의녕옹주), trưởng nữ của người vợ (vô danh). Hạ giá lấy Khải Xuyên úy họ Lý
  5. Thục Thận Ông chúa (淑愼翁主숙신옹주, ?-1453), thứ nữ của người vợ (vô danh). Hạ giá lấy Đường Thành úy Hồng Hải

Tên thụy đầy đủ của Lý Thành Quế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thái Tổ Khang Hiến Chí Nhân Khởi Vận Ứng Thiên Triệu Thông Quang Huân Vĩnh Mệnh Thánh Văn Thân Vũ Chính Nghĩa Quang Đức Hoàng Đế
  • 太祖 康獻至仁啓運應天肇通光勳永命聖文神武正義光德皇帝
  • 태조강헌지인계운응천조통광훈영명성문신무정의광덕황제
  • Taejo Gangheon Jiin Gyeun Eungcheon Jotong Gwanghun Yeongmyeong Seongmun Sinmu Jeongeui Gwangdeok

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

The tomb of his Umbilical cord is in Man-In-san, Geumsan-gun, South Chungcheong Province in the Republic of Korea.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]