Triệu (Xuân Thu)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Warning: Value not specified for "continent"
召國
Triệu quốc
Công quốc
Blank.png
thế kỷ 11 TCN – không rõ
Thủ đô Không ghi rõ
Tôn giáo Tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên
Chính thể Quân chủ
Lịch sử
 - Con cháu Cơ Thích thừa kế thực ấp thế kỷ 11 TCN
 - không rõ không rõ
Tiền tệ Tiền Trung Quốc

Triệu (chữ Hán: 召) là một công quốc được phong trong phạm vi lãnh thổ nhà Chu. Công quốc này trong thời Tây ChuXuân Thu, là nước chư hầu hàng đầu của nhà Chu.

Mục lục

Lịch sử [sửa]

Triệu công Cơ Thích là quý tộc nhà Chu và là một trong tam công của nhà Chu. Chu Vũ Vương phong cho những người đồng tộc tới các vùng đất phía đông để lập các vùng lãnh thổ chư hầu, Triệu công Thích được phong ở đất Yên, nhưng không tới nơi này mà giao cho con trai trưởng là Cơ Khắc tới cai quản, tự bản thân ông lưu lại tại Hạo Kinh[1] cùng Chu công Cơ Đán, Tất công Cơ Cao một lòng phò tá thiên tử.

Con cháu dòng thứ của ông sau này nhiều đời kế nghiệp làm tam công. Do thực ấp của ông tại đất Triệu[2] (召, tên gọi khác là Thiệu (邵[3]), nên các vị quân chủ của công quốc này được gọi chung là Triệu công.

Năm 841 TCN thời Chu Lệ Vương, nhà vua tàn bạo bị nhân dân oán ghét nổi dậy đánh đuổi đến đất Di. Triệu Mục công Cơ Hổ đã cứu thoát thái tử Cơ Tĩnh, cho con trai mình ra thế mạng thay khi quân khởi nghĩa truy đuổi Cơ Tĩnh. Sau đó ông cùng Chu Định công giữ quyền nhiếp chính, cai quản công việc triều đình trong 14. Đó chính là thời kỳ Chu Triệu cộng hòa. Năm 828, Chu Lệ Vương chết tại đất Di, Triệu Mục công đã lập thái tử Tĩnh lên kế nghiệp nhà Chu, tức là vua Chu Tuyên Vương.

Sang thời Đông Chu, năm 520 TCN, Chu Cảnh Vương chết, vương thất nhà Chu phát sinh biến loạn do vương tử Triều cầm đầu, giết Chu Điệu Vương Cơ Mãnh để giành ngôi. Cha con Triệu Trang côngTriệu Giản công theo vương tử Triều, có tham dự vào sự kiện này. Sau đó các vương thất nhà Chu ủng hộ con Chu Điệu Vương là Cơ Cái làm vua, tức là Chu Kính Vương. Cả vương tử Triều lẫn cha con Triệu công đều không bị trừng phạt.

Năm 516 TCN, vương tử Triều làm loạn lần thứ 2 khiến Chu Kính Vương phải chạy sang nước Tấn nhờ Tấn Khoảnh công phục ngôi. Triệu Giản công thấy quân Tấn phò Kính vương, lại quay sang đuổi vương tử Triều đi, nghênh đón Chu Kính Vương về nước. Đến năm 513 TCN, Giản công bị Chu Kính Vương giết.

Sau đó không rõ kết cục của nước Triệu.

Thế hệ [sửa]

Thụy hiệu Họ tên Thời gian cai trị Ghi chú Nguồn tài liệu
Triệu Khang công Cơ Thích Vũ Vương năm thứ 1-Khang Vương năm thứ 24 Họ hàng Chu Vũ Vương, một trong tam công thời Chu Sử ký-Chu bản kỉ-Yên Triệu thế gia, Kim bản trúc thư kỉ niên
Các thế hệ trung gian không thể khảo cứu
Triệu Mục công Cơ Hổ   Cùng Chu Định công giám quốc trong thời
Chu Triệu cộng hòa
Sử ký-Chu bản kỉ
Các thế hệ trung gian không thể khảo cứu
Triệu bá Liêu Cơ Liêu     Tả truyện-Trang công năm thứ 27
Các thế hệ trung gian không thể khảo cứu
Triệu Vũ công       Tả truyện-Hi công năm thứ 11
Triệu Chiêu công       Tả truyện-Văn công năm thứ 5
Triệu Hoàn công        
Triệu Đái công   ?-594 TCN   Tả truyện-Tuyên công năm thứ 15
Triệu Tương công   593 TCN-?   Tả truyện-Tuyên công năm thứ 15
Các thế hệ trung gian không thể khảo cứu
Triệu Trang công Cơ Hoán   Chu Cảnh Vương chết, vương thất nhà Chu
phát sinh loạn do vương tử Triều cầm đầu, có tham dự.
Triệu Giản công Cơ Doanh  ?-513 TCN Con Trang công. Chu Cảnh vương chết, vương thất
nhà Chu phát sinh loạn do vương tử Triều cầm đầu, có tham dự.
Năm 516 TCN, đuổi vương tử Triều đi, nghênh đón Chu Kính Vương về nước. Sau bị Chu Kính Vương giết
Tả truyện-Chiêu công năm thứ 24 và 29

Tham khảo [sửa]

Xem thêm [sửa]

Chú thích [sửa]

  1. ^ Nay là quận Trường An, địa cấp thị Tây An, tỉnh Thiểm Tây
  2. ^ Nay thuộc huyện Viên Khúc, địa cấp thị Vận Thành, tỉnh Sơn Tây
  3. ^ Hai chữ 召 và 赵 đều đọc là Triệu. Một số tác giả để tránh sự lầm lẫn giữa nước Triệu này của Triệu công Cơ Thích và nước Triệu thời Chiến Quốc, nên đã phiên âm gọi sang Thiệu 邵. Do đó nhiều sách tại Việt Nam vẫn dùng âm Thiệu để gọi người mở đầu nước này là Thiệu công Thích

Liên kết ngoài [sửa]