Ân Khư

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ân Khư
Yinxu.jpg
Tàn tích của nhà Ân, kinh đô (1350–1046 BC) của triều đại nhà Thương
Ân Khư trên bản đồ Hà Nam
Ân Khư
Vị trí trên bản đồ Hà Nam
Ân Khư trên bản đồ Trung Quốc
Ân Khư
Vị trí trên bản đồ Hà Nam
Vị tríÂn Đô, An Dương, Hà Nam, Trung Quốc
Tọa độ36°08′22″B 114°18′11″Đ / 36,13944°B 114,30306°Đ / 36.13944; 114.30306Tọa độ: 36°08′22″B 114°18′11″Đ / 36,13944°B 114,30306°Đ / 36.13944; 114.30306
Ân Khư
Yinxu (Chinese characters).svg
"Ân Khư" trong tiếng Trung
Tiếng Trung 殷墟
Nghĩa đen "Tàn tích của nhà Ân"

Ân Khư (chữ Hán: 殷墟; bính âm: Yīnxū, nghĩa là "Tàn tích của nhà Ân") là địa điểm, một trong những kinh đô lịch sử cổ đại chính của Trung Quốc. Nó là nguồn gốc của khám phá khảo cổ về Giáp cốtGiáp cốt văn, từ đó xác định được chữ viết Trung Quốc được biết đến sớm nhất. Những tàn tích khảo cổ được gọi là Ân Khư đại diện cho thành phố cổ, kinh đô cuối cùng của Nhà Thương (còn được gọi là nhà Ân) tồn tại qua 8 thế hệ trong 255 năm với 12 đời vua. Ân Khư được phát hiện hoặc cũng có thể là tái khám phá vào năm 1899. Đây hiện là một trong những địa điểm khảo cổ lâu đời nhất và lớn nhất của Trung Quốc đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Nó nằm tại phía bắc tỉnh Hà Nam, gần thành phố hiện đại An Dương ngày nay, gần với ranh giới của tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những ngôi mộ nổi tiếng nhất là mộ của Phụ Hảo (婦好), vợ của vị vua thứ 12 của nhà ThươngVũ Đinh (武丁). Ngôi mộ này được phát hiện và giữ nguyên trạng. Ngôi mộ này có 6 bộ xương chó; ít nhất 16 bộ xương người bên cạnh xương của Phụ Hảo; hơn 440 hiện vật bằng đồng; gần 600 miếng ngọc, đá và xương được chạm khắc, và khoảng 7000 đồng tiền của thời đó - tiền vỏ sò.

Ân Khư còn nổi tiếng do phát hiện xương và mai rùa và các chữ khắc trên đó (gọi là giáp cốt văn), mà người ta cho rằng đây là khởi nguồn của chữ Hán và văn viết chữ Hán. Người ta đã sưu tập được hơn 160.000 mảnh giáp cốt, và hơn 1.000 hiện vật bằng đồng xanh. Trên đó các học giả tổng kết được khoảng 4.500 đơn tự và đọc hiểu được khoảng 3.000, trong đó có 1.500 chữ được các học giả nhất trí về ngữ nghĩa. Nội dung của các mảnh giáp cốt đó viết về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đời nhà Thương, xác nhận các sử liệu ghi chép trong các sách sử cổ nói chung là chính xác.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền vị
Kinh đô Trung Quốc
1350 TCN-1046 TCN
Kế vị
Cảo Kinh