Đá Tiên Nữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thực thể địa lý tranh chấp
Đá Tiên Nữ
Tennent Reef (Pigeon Reef), Spratly Islands.png
Ảnh vệ tinh chụp đá Tiên Nữ (NASA). Những đốm màu trắng là mây.
Địa lý
Vị trí Biển Đông
Tọa độ 8°51′18″B 114°39′18″Đ / 8,855°B 114,655°Đ / 8.85500; 114.65500 (đá Tiên Nữ)Tọa độ: 8°51′18″B 114°39′18″Đ / 8,855°B 114,655°Đ / 8.85500; 114.65500 (đá Tiên Nữ)
Quốc gia quản lý  Việt Nam
Tranh chấp giữa
Quốc gia  Đài Loan

Quốc gia

 Philippines

Quốc gia

 Trung Quốc

Quốc gia

 Việt Nam
Hải đăng Tiên Nữ
Hải đăng Tiên Nữ trên bản đồ biển Đông
Hải đăng Tiên Nữ
Hải đăng Tiên Nữ
Tọa độ 8°52′16″B 114°40′51″Đ / 8,87111°B 114,68083°Đ / 8.87111; 114.68083 (Hải đăng Tiên Nữ)
Năm khởi xây 2000 (2000)
Vật liệu xây thân bê tông
Màu / dấu hiệu toàn thân màu vàng chanh
Chiều cao công trình (tính đến đế) 22,1m
Nguồn sáng Đèn chính: MSCII-RB220; đèn phụ: HD 300
Tầm chiếu sáng Ngày: 14 hải lý
Đêm: 15 hải lý
Đặc tính ánh sáng Fl(2+1) W 10s
Số Admiralty F2825.05[1]

Đá Tiên Nữ (tiếng Anh: Tennent Reef (hải đồ của Anh) hoặc Pigeon Reef (hải đồ của Mỹ); tiếng Filipino: Lopez-Jaena; tiếng Trung: 无乜礁; bính âm: Wúmiē jiāo, Hán-Việt: Vô Khiết tiêu) là một rạn san hô vòng thuộc cụm Trường Sa của quần đảo Trường Sa. Đá này là đối tượng tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, PhilippinesTrung Quốc. Hiện Việt Nam đang kiểm soát rạn vòng này như một phần của thị trấn Trường Sa, huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa, đồng thời duy trì một hải đăng tại đây.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Đá Tiên Nữ cách cụm Sinh Tồn 100 km về phía nam,[1] là thực thể nằm xa nhất về phía đông trong số các thực thể địa lý do Việt Nam kiểm soát tại Trường Sa. Bản đồ hành chính[2][3] đều thể hiện danh từ riêng là Tiên Nữ còn danh từ chung để mô tả thực thể là đá. Về bản chất địa lý, đá Tiên Nữ không phải là một đảo mà là rạn san hô.

Đá có dạng hình tam giác;[4] chiều dài tối đa và chiều rộng tối đa lần lượt là 6,5 km và 2,8 km. Khi thủy triều xuống còn 0,1 m thì toàn bộ vành ngoài mép san hô đều nổi cao lên khỏi mặt biển.[5] Tổng diện tích của rạn san hô vòng này là 3,4 km².[4]

Hải đăng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2000, Việt Nam xây một hải đăng trên đá Tiên Nữ. Tháp cao hơn 22m, toàn bộ sơn màu vàng chanh, có khối đế là một tòa nhà ba tầng và cũng là nơi đồn trú của quân đội. Ánh sáng đèn có đặc tính chớp nhóm 2+1, chu kỳ 10 giây. Tầm hiệu lực ban ngày là 14 hải lý còn ban đêm là 15 hải lý.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Rowlett, Russ. “Lighthouses of the Spratly Islands” (bằng tiếng Anh). The Public's Library and Digital Archive. 
  2. ^ Bản đồ Hành chính Việt Nam (tỉ lệ xích 1:2200000). Nhà xuất bản Bản đồ (2008)
  3. ^ “Bản đồ hành chính. Phần bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hoà, huyện Trường Sa.”. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (Việt Nam). 
  4. ^ a ă Hancox, David; Prescott, Victor (1995). A Geographical Description of the Spratly Islands and an Account of Hydrographic Surveys amongst Those Islands. Maritime Briefings (bằng tiếng Anh) 1 (6). University of Durham, International Boundaries Research Unit. tr. 12. ISBN 978-1897643181. 
  5. ^ Mai Thắng (27 tháng 6 năm 2012). “Đèn biển Trường Sa không bao giờ tắt”. Báo Tin tức. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2012. 
  6. ^ “Hải đăng Tiên Nữ”. Trang thông tin điện tử Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Nam (Việt Nam). Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2018.