Cụm Song Tử

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Cụm Song Tử (Tiếng Anh: North Danger Reef) là một tập hợp các thực thể địa lý nằm ở phần tây bắc của quần đảo Trường Sa. Cụm Song Tử gồm có hai đảo Song Tử Đông (Northeast Cay)Song Tử Tây (Southwest Cay) hợp cùng các rạn đá san hô như đá Nam (South Reef), đá Bắc (North Reef) ở khu vực lân cận để tạo nên một vòng cung san hô lớn mà tài liệu hàng hải quốc tế gọi là (cụm) rạn Nguy Hiểm phía Bắc (tiếng Anh: North Danger Reef(s); tiếng Trung: 双子群礁; Hán-Việt: Song Tử quần tiêu). Tuy nhiên, Việt Nam còn gộp hai rạn vòng ngầm dưới nước ở phía đông của rạn Nguy Hiểm phía Bắc vào cụm Song Tử, cụ thể là bãi Đinh Ba (Trident Shoal) và bãi Núi Cầu (Lys Shoal).

Ảnh chụp vệ tinh của Cụm Song Tử
Đá Bắc
Đảo
Song Tử Đông
Đảo Song Tử Tây
Đá Nam
Bãi Núi Cầu
Bãi Đinh Ba
Ảnh chụp vệ tinh của Cụm Song Tử (nguồn: NASA).

Cụm rạn san hô này được gọi là Song Tử vì hai đảo Song Tử ĐôngSong Tử Tây như một cặp đảo song sinh, vừa nằm gần nhau vừa có kích thước gần như tương đương.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Cụm đảo Song Tử có tọa độ: 11°25′N 114°21′E

Bản đồ Cụm Song Tử vẽ năm 1911
Bản đồ Cụm Song Tử (Quần đảo Trường Sa), được Việt Nam đo đạc và vẽ năm 1911

Cụm đảo Song Tử là một atoll hở hình bầu dục trải dài hướng đông bắc – tây nam. Atoll có chiều dài khoảng 15 km, chiều ngang khoảng 6,5 km, bao gồm hai đảo nổi là Song Tử Tây và Song Tử Đông, hai đảo chìm là Đá Nam và Đá Bắc. Đê viền của atoll thường xuyên bị ngập nước (ngoại trừ hai đảo nổi) và được giới hạn bởi các đường đẳng sâu 20 – 50 m, không khép kín, tạo nên nhiều cửa thông với biển bên ngoài. Hình thái các đảo nổi không ổn định, thường bị biến đổi mạnh vào các thời kỳ gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam (chủ yếu ở phần đông bắc và tây nam các đảo). Phụ thuộc vào bề rộng của hành lang ngầm bao quanh đảo cũng như các hoạt đông khác (chủ yếu là các hoạt động của con người) trên các đảo, mức độ biến đổi hình thái của đảo Song Tử Tây mạnh hơn so với đảo Song Tử Đông. Phần trong vụng atol Song Tử có bề mặt địa hình đáy bằng phẳng, độ sâu lớn nhất là 42 - 43m; bề mặt đáy được phủ bởi trầm tích cát nhỏ mịn; tác động của thủy động lực yếu hơn so với bên ngoài atoll, là nơi trú ngụ và neo đậu tàu thuyền khá thuận lợi, đồng thời có khả năng phát triển tốt các mô hình và dạng thức nuôi biển. Bề mặt mài mòn của tập đá vụn san hô (bề mặt thềm biển) là bề mặt nền trên cùng của hầu hết các đảo nổi trong quần đảo Trường Sa, được hình thành vào thời kỳ biển lùi Holocene giữa - muộn. Tuổi của thềm biển này được định là 2020 ± 80 năm.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những người ngư dân Chiêm Thành có lẽ là những người đầu tiên phát hiện ra vùng đảo này. Tuy nhiên những người Việt Nam mới là những người thể hiện sự hiện diện của mình thường xuyên tại đây.

Từ thế kỷ XV trở đi, các vua chúa Việt Nam đã chú ý đến vùng đảo phía Đông.

Vào thế kỉ XVI-XVIII, trong thời đại hoàng kim của Hệ thống hải thương châu Á, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã sớm nhận thấy vai trò quan trọng và tiềm năng to lớn của các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và đã cho lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải phái cử đến các đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Hà Tiên nhằm thu hải vật và khẳng định chủ quyền. Các chúa Nguyễn như Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Chu… hay các vua nhà Nguyễn mà điển hình là Gia Long, Minh Mạng…, đã liên tục phái cử các lực lượng dân binh, thuỷ binh đến xây dựng đền miếu, vẽ hải đồ, đo đạc hải trình, lập bia chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và nhiều vùng đảo khác ở Biển Đông.

Năm 1776, trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn đã có những ghi chép về vùng đảo này liên quan đến thành lập và tổ chức hoạt động của Hải đội Hoàng Sa, Hải đội Bắc Hải.

Năm 1838, vua Minh Mạng cho vẽ địa đồ gọi là “Đại Nam Thống Nhất Chí Toàn Đồ” trong đó thể hiện rõ 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam.

Khi Việt Nam là thuộc địa của Pháp, Chính phủ Pháp tiếp tục thay mặt Việt Nam quản lý cụm Song Tử cùng với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bia chủ quyền của Việt Nam lập năm 1958 trên đảo Song Tử Tây

Năm 1904, Nhà Thanh cho ban hành tấm bản đồ gọi là “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” thể hiện lãnh thổ của Trung Quốc cực nam chỉ đến đảo Hải Nam.

Năm 1935, Trung Quốc ra tuyên bố về yêu sách đối với các rạn đá này.

Năm 1954 chính phủ Pháp chính thức trao trả cụm Song Tử cùng toàn bộ quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Việt Nam.

Năm 1958 Hải quân Việt Nam cộng hòa xây dựng bia chủ quyền trên đảo Song Tử Đông và Song Tử Tây.

Năm 1970 Philippines chiếm cứ lấy lấy đảo Song Tử Tây.

Các đảo và bãi đá[sửa | sửa mã nguồn]

Cụm Song Tử gồm 2 đảo nổi và 4 bãi đá

Hai đảo nổi gồm: Đảo Song Tử Đông (Hiện tại đang được Philippin quản lý) và Đảo Song Tử Tây (Hiện tại đang được Việt Nam quản lý)

Bốn bãi đá là: Đá Bắc, Đá Nam, bãi Đinh Babãi Núi Cầu.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]